Trang chủ Chi pháiCôi Trì - Trung Đồng Vài Nét Về Tình Hình Ruộng Đất Làng Côi Trì (Yên Mô – Ninh Bình) Nửa Đầu Thế Kỷ XIX Qua Tư Liệu Địa Bạ.

Vài Nét Về Tình Hình Ruộng Đất Làng Côi Trì (Yên Mô – Ninh Bình) Nửa Đầu Thế Kỷ XIX Qua Tư Liệu Địa Bạ.

đăng bởi Ninh Quang Thăng
0 nhận xét

VÀI NÉT VỀ TÌNH HÌNH RUỘNG ĐẤT LÀNG CÔI TRÌ (YÊN MÔ – NINH BÌNH)

NỬA ĐẦU THẾ KỶ XIX QUA T­Ư LIỆU ĐỊA BẠ.

(Bài đăng trên tạp chí Nghiên cứu Lịch sử số tháng 12 năm 2010)

  Đinh Văn Viễn

1. Khái quát quá trình hình thành và phát triển của làng Côi Trì

Thời Lê sơ, Côi Trì thuộc huyện Yên Mô phủ Trường Yên, thừa tuyên Sơn Nam.  Phía Đông Nam của làng tiếp giáp với đê Hồng Đức(nay là đoạn đường 59 B), phía Tây giáp sông Trinh, phía Nam giáp Cổ Lâm thuộc làng Yên Mô Thượng (thuộc xã Yên Mạc), phía Bắc giáp làng Cổ Đà (thuộc xã Yên Phú).

Được khai hoang từ năm 1470(Hồng Đức nguyên niên), trải qua 36 năm đến năm Đoan Khánh thứ nhất (1505) mới lập xã gọi là xã Côi Đàm thuộc huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, thừa tuyên Sơn Nam. Năm Gia Thái thứ nhất (1573) đổi Côi Đàm thành Côi Trì thuộc huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Thanh Hoa. Từ đây về sau tên Côi Trì được giữ nguyên. “Đàm” hay “Trì” thì đều có nghĩa là “cái ao ”, nó phản ánh một vùng đất trũng, úng nước liên tục nhưng đó là “cái ao” “đẹp”(“đẹp”là nghĩa của từ “Côi”)

Năm 1806, Côi Trì thuộc huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, đạo Thanh Bình, trấn Thanh Hoa.

Năm 1822, Côi Trì thuộc huyện Yên Mô, phủ trường Yên, đạo Ninh Bình, trấn Thanh Hoa.

Năm 1829, Côi Trì thuộc huyện Yên Mô, phủ Trường Yên, trấn Ninh Bình.

Từ năm 1831 đến Cách mạng Tháng 8 năm 1945, Côi Trì thuộc tổng Yên Mô, huyện Yên Mô, phủ trường Yên, tỉnh Ninh Bình([i]).

Làng Côi Trì được hình thành trong công cuộc khai hoang theo phương thức chiếm xạ thời Lê sơ([ii]).

Quá trình khai hoang, lập làng ở Côi Trì vừa có nét giống vừa có nét khác với những điểm khai hoang khác ở thế kỷ XV. Thời gian khẩn hoang Côi Trì khá dài(36 năm, từ năm 1470 đến 1505). Lực lượng khẩn hoang chủ yếu là nông dân nghèo không có hoặc ít ruộng đất. Lực lượng này được tổ chức khá chặt chẽ, thống nhất. Sau khai hoang,“làng xóm được bố trí theo quan hệ huyết tộc và quan hệ đồng hương” ([iii]). Từ sau khi thành lập làng Côi Trì có sự phát triển cả về diện tích, điểm tụ cư và dân số. Ở thời điểm ban đầu, sau khai hoang làng có diện tích là 116 đạc tương đương với 928 mẫu (mỗi đạc bằng 8 mẫu)với số đơn vị cư trú là 8 xóm: Cự Phú, Đông Ninh, Đông Tường, Trung Hậu Bắc, Trung Hậu Nam, Mỹ Thắng, Lý Thượng và xóm Điền Sở. Đến năm 1832, tổng diện tích Côi Trì là 1061 mẫu, 2 thước, 6 tấc, 7 phân, 4 ly, so với thời điểm ban đầu khi lập làng (928 mẫu) tăng 133 mẫu (12,53%). Điểm tụ cư được mở rộng. Từ 8 xóm trước đây đến thế kỷ XIX, Côi Trì có 24 xóm( Hương sử cũng chép: “Hai m­¬i bèn xãm xãm nµo còng vui” ([iv]). Đó là: Đông Tiền, Đông Hậu, Đông Trung, Cự Phú, Trung Hậu Bắc, Trung Hậu Nam, Trung Tiền, Dũng Tiền, Dũng Hậu, Dũng Trung, Quang Tiền, Quang Hậu, Quang Trung, Nhân Hậu, Quán Bút, Bút Thị, Lý Thượng, Lý Trung, Lý Hạ, Mỹ Thắng, Đông Minh, Đông Tường, Điền Sở và Mỹ Hà. Dân số cũng tăng: 89 người (khi khai hoang thế kỷ XV) đến thời Minh Mệnh riêng số đinh nam đã là 600 ([v]).

Từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX, sự biến động của ruộng đất của Côi Trì vừa nằm trong quy luật chung, giống như toàn quốc đồng thời lại có nét riêng độc đáo.

2. Tình hình ruộng đất.

2.1. Sở hữu ruộng đất công làng xã.

Trước năm 1476, tổng số “diện tích khai hoang được là 116 đạc (khoảng 928 mẫu). Trong thời gian này, Côi Trì không có ruộng đất công.

Năm 1476, ruộng đất công ở Côi Trì là 360 mẫu = 38,79 %” ([vi]).

Ở các thế kỷ sau số ruộng công ở Côi Trì vẫn được duy trì với tỷ lệ khá cao. Năm 1722 theo Côi Trì thông lệlàng lấy ruộng công cấp cho binh lính. Côi Trì lấy 150 mẫu 6 sào ruộng công cấp cho 25 xuất binh. Cụ thể như sau:

TT Thành phần được cấp Số ruộng được cấp Loại ruộng
1 Mã binh:
– 2 ông trưởng 10 mẫu Hạng 1
– 5 ông ngũ 30 mẫu Hạng 2
– 9  người khác 63 mẫu Hạng 3
2 Xã cho binh lính mượn 2 mẫu
3 Hùng luyện binh: 9 45 mẫu
Hạng 1: 11 mẫu
Hạng 2: 12 mẫu
Hạng 3: 22 mẫu
4 Xã cho: 6 sào Hạng 1
Tổng 150 mẫu 6 sào

[Nguồn: C«i Tr× th«ng lÖ,1753 ký hiÖu AF–a4/48, ViÖn H¸n N«m. ]

Trong đó theo Cuốn Đinh bạ năm 1722(Bảo Thái) của Côi Trì thì số binh lính của làng là 35 xuất. Như vậy dù thống kê trên là chưa đầy đủ số binh thì cũng chứng tỏ số ruộng công ở Côi Trì bấy giờ vẫn khá nhiều.

Đầu thế kỷ XIX, trong khi trên phạm vi toàn quốc(theo Sĩ hoạn tu tri lục) ruộng công làng xã chỉ chiếm 17,08%, ở Bắc Bộ chỉ chiếm 25%([vii]) thì ở Côi Trì vẫn còn là 572 mẫu 4 sào 3 thước 7 tấc 8 phân 3 ly ([viii]), chiếm tỷ lệ khá lớn: 53,95%.

Sau đây ta so sánh tỷ lệ ruộng công ở Côi Trì với một số làng xã khác ở Ninh Bình cũng như ở khu vực Đồng bằng Bắc bộ ở thời điểm đầu thế kỷ XIX

TT

Tên làng xã

Tỷ lệ %  ruộng đất công

1

Mộ Trạch(Hải Dương)

0.93

2

Đa Ngưu (Hưng Yên)

0.94

3

Dục Tú (Bắc Ninh)

16.20

4

Bồ Xuyên(Yên Mô, Ninh Bình)

19.46

5

Cổ Đà (Yên Mô, Ninh Bình )

35.88

6

Cống Thuỷ(YênKhánh, Ninh Bình)

43.30

7

Côi Trì (Yên Mô, Ninh Bình)

53.95

8

Kênh Đào(Yên Mô, Ninh Bình)

71.52

(Nguồn:Địa bạ năm 1832 của các làng Côi Trì, Kênh Đào, Bồ Xuyên, Cống Thủy ở Ninh Bình vàNguyễn Văn Khánh(1998): Biến đổi ruộng đất ở làng Mộ Trạch(Hải Dương) từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945. Tc NCLS số 1)

Từ bảng thống kê cho ta thấy: Tỷ lệ công điền ở Côi Trì vào đầu thế kỷ XIX còn khá cao(53.95%). Trong khi đó ở Cổ Đà (Hà Tây), Dục Tú (Bắc Ninh) nhất là Mộ Trạch (Hải Dương), Đa Ngưu (Hưng Yên) tỷ lệ công điền rất thấp. Ngay trong huyện Yên Mô tỷ lệ công điền cao, thấp cũng khác nhau. Trong khi Kênh Đào còn 71,52% thì ở Bồ Xuyên chỉ còn 19,46%. Sự chênh lệch về tỷ lệ công điền ở các địa phương đầu thế kỷ XIX là một thực tế và đã được nhiều nhà nghiên cứu phản ánh.

Việc Côi Trì tồn tại tỷ lệ công điền cao như vậy chứng tỏ sự phân hoá ruộng đất ở đây diễn ra chưa mạnh. Nguyên nhân của hiện tượng này là: Côi Trì có điều kiện để mở rộng diện tích canh tác; Sức ép của dân số lên ruộng đất ở Côi Trì có điều kiện để giảm bớt do dân cư bị thu hút bởi những đợt khai hoang mới (sau Côi Trì); Mặt khác Côi Trì cũng chịu ảnh hưởng của chính sách bảo vệ ruộng đất công của nhà nước phong kiến.

Ruộng công ở Côi Trì được bố trí ở phía bắc, tây bắc làng, gọi là “ngũ xứ công điền”(Đồng Lược, Mỹ Nội, Mỹ Ngoại, Đồng Ngoài, Đồng Đầm và thần từ điền).

Cụ thể như sau:

TT

Tên xứ đồng

Diện tích

1

Mỹ Ngoại 42m 5s 7th 5t

2

Mỹ Nội 56m 6s 7t 6 l

3

Đồng Lược 178m 14th 3 t 7ph

4

Côi Khê (Đồng Ngoài, Đồng Đầm) 277m 2s 2th 6t

5

Thần từ điền (ở xứ Đông Hậu) 2m 5s

Tổng

556m 4s 10th 1t 7ph 6l

[Nguồn: Côi Trì xã địa bạ 1832]

Phần lớn các khu ruộng công đều là ruộng đất ở xa khu vực cư trú, trũng, việc thau chua rửa mặn rất khó. Thống kê từ Côi Trì  xã  Địa bạ (1832) cho thấy:

Loại ruộng

Diện tích

Tỷ lệ %

Ruộng hạng 1 20 mẫu

3, 59%

Ruộng hạng 2 137mẫu 5 sào 7thước 6tấc 6ly

24,72 %

Ruộng hạng 3 398mẫu 9sào2thước 4tấc 7phân

71,69 %

Tổng 556 m 4s 10th 1t 7 ph 6 l

100

[Nguồn: Côi Trì xã địa bạ 1832]

Việc bố trí ruộng công ở nơi đất xấu hơn ruộng tư như thế là hiện tượng thường thấy ở các làng xã. Điều này thể hiện “nguyên tắc kinh tế” trong việc phân chia ruộng đất ở Côi Trì.

Như vậy diễn biến ruộng công ở Côi Trì từ cuối thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX cho thấy: Tỷ lệ ruộng tăng từ 38,79% (thế kỷ XV) lên 53,95%(năm 1832). Nhưng điều này không đồng thời với sự tăng lên về số lượng ruộng mà người dân được chia. Bởi nếu ở cuối thế kỷ XV, khi mới lập làng chỉ có 89 “quan chiếm xạ” thì 7 năm sau, năm 1476(năm Côi Trì phải khai báo số ruộng khai hoang được lên cấp trên) có lẽ số lượng dân cư tăng lên cũng chưa nhiều. Vì thế dù chỉ có 360 mẫu công điền nhưng có lẽ số ruộng mà mỗi người được chia là khá lớn. Năm 1832, số đinh nam của Côi Trì khoảng 600 đinh([ix]) thì số ruộng mỗi người được chia là 9sào 4 thước. Trên thực tế số ruộng người dân được chia từ công điền giảm. Điều này phù hợp với xu hướng chung của sự chuyển biến sở hữu ruộng đất ở nước ta từ thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XIX. Tuy nhiên nếu so với các làng xã khác ở Đồng bằng Bắc Bộ hay ở Yên Mô thì số ruộng công ở Côi Trì như vậy là khá cao. Điều này giúp lý giải vì sao cư dân Côi Trì trước sau chăm chú vào đồng ruộng. Côi Trì căn bản vẫn là một làng sản xuất nông nghiệp.(Còn nữa)


([i] )(8)Ninh Bình tỉnh, Yên Mô huyện, Yên Mô tổng, Côi Trì xã địa bạ,ký hiệu  Q3939, TTLT  Quốc gia I,

([ii]): Xem thêm: Phan Đại Doãn, Vũ Văn Quân(1999): Quá trình khai hoang lập làng Côi Trì (Ninh Bình) dưới thời Lê Thánh Tông. Tc NCLS số 6.

([iii]) : Phan Đại Doãn, Vũ Văn Quân(1999): Quá trình khai hoang lập làng Côi Trì (Ninh Bình) dưới thời Lê Thánh Tông. Tc NCLS số 6 trang 21.

([iv] ) : Hương sử, gồm 274 câu thơ về làng Côi Trì(tư liệu sưu tầm ở địa phương).

([v] ): Nguyễn Đình Tuyên: Côi Trì lịch sử giải âm(1911)(Sách sưu tầm tại địa phương), trang 15

([vi] : Phan Đại Doãn, Vũ Văn Quân(1999): Quá trình khai hoang lập làng Côi Trì (Ninh Bình) dưới thời Lê Thánh Tông. Tc NCLS số 6 trang 22.

([vii] )(11 ):  Vũ Văn Quân(2008): Vấn đề ruộng đất trong chính sách đối nội của nhà Nguyễn ở nửa đầu thế kỷ XIX, trong Kỷ yếu Hội thảo khoa học: Chúa Nguyễn và vương triều Nguyễn trong lịch sử Việt Nam từ thế kỷ XVI đến thế kỷ XIX. Thanh Hoá ngày 18,19-10-2008, trang 385.

 

([ix] ): Nguyễn Đình Tuyên: Côi Trì lịch sử giải âm(1911)(Sách sưu tầm tại địa phương), trang 10

(Tiếp theo)

2.2 Sở hữu tư nhân về ruộng đất.

Từ 1470-1476, số ruộng tư ở Côi Trì là 116 đạc (928 mẫu) chiếm 100%.

Năm 1476, số lượng ruộng tư ở Côi Trì trên thực tế là “568 mẫu, chiếm 61,21%”([1]).

Đến nửa đầu thế kỷ XIX(1832) số ruộng đất tư ở Côi Trì là 459 mẫu, 5 sào, 12 thước, 5 tấc, 8phân, 4lychiếm 43, 31%.

Như vậy đến đầu thế kỷ XIX, trong khi ruộng tư trên toàn quốc (theo Sĩ hoạn tu tri lục) đã chiếm tỷ lệ 82,92%, ở Bắc Bộ chiếm khoảng 75%([2]) thì ở Côi Trì số ruộng tư chỉ chiếm tỷ lệ: 43, 31%.

Tỷ lệ ruộng tư ở Côi Trì thấp hơn so với một số làng xã ở Hưng Yên(Đa Ngưu: 98.47%), Hải Dương(Mộ Trạch: 83.00%) và thấp hơn cả một số làng xã hình thành sớm ở Yên Mô (như Bồ Xuyên(80.54%), Cổ Đà(64.12%)). Đồng thời tỷ lệ này cũng thấp hơn cả Cống Thuỷ(56.70%)([3]), một làng được thành lập cùng thời gian và theo một  phương thức.

Về mặt nào đó thì đúng là tại Côi Trì sự phân hoá, tư hữu ruộng đất chưa phát triển bằng các nơi khác. Nhưng cũng do những đặc thù ở Côi Trì khiến ruộng tư hữu ở đây có tỷ lệ thấp. Đó là diện tích của Côi Trì vẫn liên tục được mở rộng. Chúng tôi đã có tư liệu về hai lần Côi Trì mở rộng diện tích như sau: Theo “Côi Trì Bút thị bia ký” và “Ninh Thị khảo đính” vào năm Cảnh Hưng 16(1755)  giữa Yên Mô Thượng và Côi Trì có giao ước, theo đó Yên Mô Thượng nhượng cho Côi Trì một khu ruộng đất khoảng 35 đạc ở bên ngoài đê Hồng Đức, nơi giáp với Yên Mô Thượng(Côi Trì dùng một phần khu đất đó để mở chợ Bút)([4]). “Đến thời Minh Mệnh (1820-1840), Lý trưởng Côi Trì là Ngô Kịch đã làm đơn xin trưng khẩn được hơn 80 mẫu ởphía tây bắc làng” ([5]). Một số trong đó được sung vào ruộng công. Mặt khác cư dân Côi Trì rất chú ý việc học, coi học hành, khoa cử là con đường lập nghiệp chính. Hơn từ thế kỷ XVII, XVIII, XIX kinh tế thủ công nghiệp, thương nghiệp ở Côi Trì có khởi sắc vì thế nó thu hút một lượng nhất định cư dân, bớt đi sức ép đối với ruộng đất, nông nghiệp.

Ruộng tư ở Côi Trì được bố trí ở các xứ đồng: Đông Hậu, Cầu Tràng, Đồng Đại, Mả Luật, Đồng Tiếp, Cửa Đình. Tất cả đều là các chân ruộng cao, ở phía nam làng, việc canh tác thuận lợi hơn các khu ruộng công.

Theo Côi Trì xã địa bạ (1832) tỷ lệ các hạng trong ruộng tư như sau: Hạng 3: 51,30 %, hạng 2:38,1 %, hạng 1:10,59 %. Các loại hạng 1, hạng 2 cao hơn hẳn ruộng công.

Cũng thống kê từ Côi Trì xã địa bạ (1862) cho ta biết về quy mô sở hữu:

TT

Quy mô sở hữu (mẫu)

Chủ sở hữu

Số lượng (người)

Tỷ lệ (%)

1

Dưới 1 mẫu

179

79, 91

2

1 – 3 mẫu

30

13, 39

3

4 – 5 mẫu

9

4, 02

4

6 – 10 mẫu

6

2, 68

Tổng

224

100

[Nguồn: Côi Trì xã địa bạ 1832]

Từ bảng thống kê trên cho thấy: ở Côi Trì hầu như chỉ có chủ sở hữu nhỏ. Các chủ sở hữu dưới mẫu chiếm tới 79,91%. Tuyệt nhiên không hề có tầng lớp đại địa chủ. Các quan hệ tư hữu ở Côi Trì chỉ diễn ra ở mức độ thấp và bộ phận nông dân tự canh là một lực lượng đông đảo trong các chủ sở hữu.

Thống kê từ Côi Trì xã địa bạ(1832) cho thấy nửa đầu thế kỷ XIX, Côi Trì có 83 chủ sở hữu là nữ, chiếm 21,01 % số chủ ruộng(tổng số 395 chủ ruộng). Số chủ nữ nắm trong tay 10,56% diện tích ruộng tư hữu(thực trưng). Trung bình mỗi chủ nữ sở hữu 4,1 sào ruộng. Các nữ chủ sở hữu ruộng đất ở Côi Trì chưa ai trở thành địa chủ. Nhưng việc có lượng khá lớn nữ chủ sở hữu ruộng đất ở Côi Trì cũng là một hiện tượng đặc biệt. Điều này cho thấy ở Côi Trì, người phụ nữ đóng vai trò không nhỏ trong kinh tế gia đình. Số ruộng chủ nữ đứng tên có thể là của hồi môn được bố mẹ tặng; có thể do mua bán, hoặc khai hoang, hoặc do goá chồng.

Một hiện tượng đáng lưu ý là số ruộng xâm canh tại Côi Trì rất ít, chỉ có 9 sào, đều thuộc loại ruộng xấu, khó canh tác (hạng 2,3).

TT Họ tên Quê quán Diện tích xâm canh Hạng ruộng

1

Phạm Ngôn Yên Mô Thượng 3 sào Hạng 2

2

Phạm Quang Yên Mô Thượng 3sào Hạng 2
Yên Mô Thượng 2 sào 5 thước Hạng 3

3

Nguyễn Quỳ Yên Mô Thượng 10 thước Hạng 3
Tổng 9 sào

[Nguồn: Côi Trì xã địa bạ 1832]

Điều này chứng tỏ cư dân Côi Trì thiết tha với ruộng đất. Mặt khác hiện tượng này cũng phần nào phản ánh tính chất tự trị, đóng kín của làng Côi Trì trên phương diện kinh tế.

Tình hình sở hữu ruộng đất trong các nhóm dòng họ ở Côi Trì có sự biến chuyển qua các thế kỷ nhưng về cơ bản là các dòng họ đến trước vẫn chiếm ưu thế hơn. Có Cuối thế kỷ XV, những họ có vai trò lớn hơn, số lượng người đông hơn trong khai hoang là những họ chiếm nhiều diện tích hơn (3 dòng họ của 3 người tổ chức: NguyÔn §iÓm, Ph¹m Nh©n L·o, Ng« C«ng L­îc và 6 dòng họ của 6 người nhóm trưởng: NguyÔn §µn, T¹ Låi, TrÞnh §øc Khiªm, Vò §·ng, NguyÔn QuyÕt, NguyÔn ThuËn §øc)([*]). Ở các thế kỷ sau sự chênh lệch về mức độ sở hữu ruộng đất của các nhóm dòng họ tại làng cũng thay đổi. Theo Côi Trì xã địa bạ (1832) cho ta bảng thống kê sau:

TT

Tên họ

Số chủ sở hữu

Diện tích

Số lượng(người)

Tỷ lệ %

Số lượng

Tỷ lệ %

1

Nguyễn

131

20,2

56m 7s 14th 5t 7l

19, 94

2

104

16, 0

42m 1s 14th 5t

14, 82

3

Trần

89

13, 7

43m 2s 12th 6t

15, 19

4

Ninh

88

13, 6

41m 3s 1th 7t

14, 51

5

Phạm

63

9, 7

24m 2s 7th 5t

8,51

6

Tạ

56

8, 6

24m 3s 1th 5t

8, 53

7

Ngô

52

8, 0

22m 5s 8th 5t

7, 92

8

Hoàng

45

6, 9

19m 9s 2th 9t

6, 87

9

19

2, 9

9m 7s 10th

3, 44

10

Phan

2

0, 3

7s

0, 27

Tổng

649

100

285m 13th 7t 7l

100

[Nguồn: Côi Trì xã địa bạ 1832]

Sự chênh lệch về tỷ lệ chiếm hữu ruộng đất giữa các nhóm dòng họ ở Côi Trì là do số lượng người của các nhóm dòng họ khác nhau. Điều này cũng phản ánh thế lực của các nhóm dòng họ tại Côi Trì là khác nhau. Các nhóm dòng họ có vai trò lớn trong công cuộc khai hoang lập làng, có đông người (như họ Nguyễn, Ninh),  thường có thế lực kinh tế hơn và nắm quyền chi phối làng xã. Bằng chứng là 2/6 chức sắc trong làng là người họ Nguyễn – họ chiếm hữu nhiều ruộng nhất ở Côi Trì.

Về sở hữu của các chức dịch nửa đầu thế kỷ XIX. Theo Côi Trì xã địa bạ (1832) cho ta bảng thống kê sau:

TT Họ tên Chức danh

Diện tích sở hữu

Tỷ lệ %
1 Hoàng Sâm Lý Trưởng 6m 4s 13th

22.2

2 Lê Truy Phó Lý Trưởng 2s 7th 5t

0.9

3 Nguyễn Diên Phó Lý Trưởng

0

4 Trần Khắc Khâm Hương mục 5m 5s 7th 5t

18.9

5 Ngô Hữu Lã Hương mục 5m 1s 6th

17.5

6 Nguyễn Xuân Trưởng bạ 4m 7s 10th 5t

16.4

7 Vũ Thái Trưởng bạ 7m 0s 4th 5t

24.1

Tổng 29m 2s 4th 0t

100

[Nguồn: Côi Trì xã địa bạ 1832]

Như vậy có 6/7 chức dịch có ruộng tư, chiếm 9,10% số diện tích ruộng tư. Trường hợp Nguyễn Diên không có ruộng tư, chiếm 16,6%. Tỷ lệ này khác xa với tình hình sở hữu ruộng đất ở các khu vực khác. Ví dụ ở Thái Ninh(Thái Bình) số chức dịch không có ruộng tư là 56,30 %, ở Thuỵ Anh (Thái Bình) là 3,57%, ở Từ Liêm(Hà Nội) là 33, 07% ([6]).

Nếu các khu vực khác (như dẫn chứng trên) các chức vụ trong làng xã được giao cho những người sở hữu nhỏ, thậm chí không có ruộng đất, hoặc là đại địa chủ (như ở Mộ Trạch 100% chức sắc là đại địa chủ) thì ở Côi Trì, các chức vụ này đều nằm trong tay bộ phận sở hữu vừa. Nhưng xét trong nội bộ làng thì họ là những người nhiều ruộng tư nhất và đều chiếm ruộng tốt (hạng 1, 2) và đều thuộc loại ruộng thu vụ (chắc ăn hơn hạ vụ). Rõ ràng là lực lượng quản lý làng xã ở Côi Trì vẫn thuộc bộ phận có thế lực kinh tế nhất trong làng.

Nét nổi bật khác là những người có học, có bằng cấp, có chức tước ở Côi Trì chiếm một số lượng khá lớn ruộng đất. Theo Côi Trì xã địa bạ (1832)cho ta số liệu sau:

TT

Họ tên

Chức sắc, Học vị

Diện tích sở hữu

1

Nguyễn Ái

Lang Trung

2m

4s

5th

2

Nguyễn Cảnh

Tỳ Tài

1m

9s

8th

5t

3

Nguyễn Trung Chính

Thư lại

7s

5th

4

Ninh Đệ

Thư lại

8s

10th

5

Ninh Quang Định

Tỳ Tài

8s

7th

5t

6

Vũ Lân

Thư lại

2m

6s

12th

5t

7

Nguyễn Hợp

Tỳ Tài

5m

5th

8

Ninh Nhân

Tỳ Tài

2m

7s

2th

5t

9

Hoàng Khắc Khâm

Tỳ tài

5m

8s

10th

5t

10

Nguyễn Trứ

Tỳ Tài

1s

11

Nguyễn Uấn

Tỳ Tài

5m

1s

2th

12

Nguyễn Viết

Tỳ Tài

7s

Tổng

29m

0s

8th

5t

[Nguồn: Côi Trì xã địa bạ 1832]

Như vậy, vào nửa đầu thế kỷ XIX, những người có bằng cấp hoặc có chức tước ở triều đình nhưng họ vẫn có ruộng tại làng, chiếm 9,06%  số ruộng tư.

2.3 Một số loại ruộng đất khác.

* Ruộng họ: Mức độ sở hữu của các họ có chênh lệch nhau. Thường thì họ nào giàu có, có nhiều người đỗ đạt thì có nhiều ruộng. Sau đây là thống kê số ruộng của một số dòng họ ở Côi Trì dựa trên một số Gia phả:

TT

Tên Họ

Nơi ở

Số lượng ruộng

1 Ngô

Xóm Mỹ Thắng

5 m 6 s 0th 6 t

2 Tạ

Xóm Mỹ Thắng

1 m 6 s 0 th 0 t

3 Nguyễn

Xóm Cự Phú

6 m 7 s 0 th 0 t

4 Ninh

Xóm Lý Thượng

11 m 1 s 0 th 0 t

5 Phạm

Xóm Quang Tiền

4 m 5 s 0 th 0 t

6 Hoàng

Xóm Mỹ Thắng

0 m 6 s 0 th 6 t

7 Nguyễn

Xóm Trung Hậu Bắc

0m 4 s 0 th 0 t

[Nguồn: Gia phả họ Ngô, Tạ, Nguyễn(xóm Cự Phú), Ninh, Phạm, Hoàng, Nguyễn(xóm Quang Tiền) ở Côi Trì]

Các nguồn tư liệu địa phương (văn bia, minh chuông)cho biết một số loại ruộng khác như sau:

TT

Loại

Số lượng ruộng

1

Ruộng hội tư văn

5 mẫu

2

Ruộng hội tư võ

12 mẫu, 12 thước

3

Ruộng làng Lão

4 mẫu

4

Ruộng chùa

5 sào

5

Ruộng đình

8 sào

6

Ruộng học điền

1 mẫu 5 sào

[Nguồn:Côi Trì Lão hội bi ký 1765; Côi Trì vũ hội bi ký 1797;Bia Lịch đại tiên hiền biểu thứ 1780(bia làng văn Côi Trì)]

Phương thức canh tác của loại các ruộng trên thường là giao cho các hội viên của hội đó (hoặc các giáp )luân phiên nhau canh tác, hoa lợi thu hoạch được sử dụng trong hoạt động của hội (Riêng loại ruộng chùa thì do các nhà sư canh tác).

So với địa phương khác thì ruộng đất Côi Trì khá thuận lợi. Đầu thế kỷ XIX cả ruộng công và ruộng tư thì tỷ lệ ruộng cấy vụ thu(vụ chiêm) lớn hơn diện tích ruộng cấy vụ hạ (vụ mùa). Thực tế là ở Côi Trì vụ thu thời tiết thuận lợi hơn, ít bị lũ lụt, “chắc ăn” hơn. Mặt khác thống kê từ Côi Trì xã địa bạ(1832) cho thấy ruộng đất diện tích bình quân / một mảnh ở Côi Trì không quá bé (khoảng 4.4 sào). Chỉ có 5(trong tổng số 645) thửa có diện tích dưới 1 sào. Đây cũng là điểm  thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp ở Côi Trì.

Từ các số liệu trên cho thấy tình hình ruộng đất ở Côi Trì từ thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX nổi lên một số đặc điểm sau:

1. Nằm trong xu hướng chung của cả nước ruộng tư ngày càng phát triển, ruộng công ngày càng bị thu hẹp nghiêm trọng. Nhưng ở Côi Trì vào nửa đầu thế kỷ XIX, số ruộng công ở đây lại nhiều hơn ruộng tư, chiếm 53.95%.

Diễn biến tình hình ruộng đất ở Côi Trì từ cuối thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX được thể hiện qua bảng thống kê sau:

Thời gian

Tổng số rđ

Ruộng đất công

Ruộng đất tư

Các loại khác

SL

TL%

SL

TL%

SL

TL%

Trước 1476 928 m 0 0 928 m 100
1476 928 m 360 m 38.79 568 m 61.21
1832 1061m th 6t 7ph 4l 572m 4s 3th 7t 8ph 3l 53.95 459m5s 12th 5t 8ph 4l 43.31 29m 0s 10th 7t 8ph 3l 2.74

 

2. Ở Côi Trì, sở hữu ruộng đất tư nhân không phát triển mạnh như nhiều địa phương khác. Chủ sở hữu ở Côi Trì chủ yếu là những người sở hữu nhỏ. Ruộng đất ở Côi Trì nửa đầu thế kỷ XIX mang tính chất manh mún,mức độ sở hữu của các chủ không lớn. Tầng lớp trên ở Côi Trì (chức sắc, trí thức…) chiếm hữu số lượng diện tích ruộng đất đáng kể. Phụ nữ chiếm 21,01% số chủ ruộng. Chênh lệch về sở hữu ruộng đất giữa các dòng họ khá lớn, các dòng họ có vai trò lớn trong công cuộc khai hoang lập làng hồi cuối thế kỷ XV thường nắm giữ nhiều ruộng đất hơn, có vai trò hơn trong làng xã. Đặc điểm trên đây đã chi phối rất lớn đến cơ cấu kinh tế, xã hội và đời sống văn hóa của Côi Trì trong suốt các thế kỷ từ XV đến đầu XIX.

Chú thích:


[*] : Xem thêm: Phan Đại Doãn, Vũ Văn Quân(1999): Quá trình khai hoang lập làng Côi Trì (Ninh Bình) dưới thời Lê Thánh Tông. Tc NCLS số 6


([1] )(14): Phan Đại Doãn, Vũ Văn Quân(1999): Quá trình khai hoang lập làng Côi Trì (Ninh Bình) dưới thời Lê Thánh Tông. Tc NCLS số 6, trang 23.

([3] ): Các số liệu này lấy từ:  Nguyễn Văn Khánh(1998): Biến đổi ruộng đất ở làng Mộ Trạch(Hải Dương) từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945. Tc NCLS số 1, trang 37; Ninh Bình tỉnh, Yên Mô huyện, Quảng Phúc tổng, Cổ Đà xã địa bạ, ký hiệu AG a4/39, Viện nghiên cứu Hán Nôm; Ninh Bình tỉnh, Yên Mô huyện, Bạch Liên tổng, Bồ xuyên xã địa bạ, ký hiệu AG a4/34, Viện nghiên cứu Hán Nôm; Phan Đại Doãn(1997): Về cuộc khẩn hoang lập làng Cống Thủy (Ninh Bình). Tc NCLS số 5

([4])Ninh Thị khảo đính (tài liệu sưu tầm tại địa phương), Côi Trì Bút thị bi ký 1756.

([6] ): Nguyễn Văn Khánh(1998): Biến đổi ruộng đất ở làng Mộ Trạch(Hải Dương) từ đầu thế kỷ XIX đến năm 1945. Tc NCLS số 1, trang 38

Tin tức liên quan

Trở lại bình luận

logo-honinh-trang

Website honinh.com giới thiệu những giá trị lịch sử – văn hóa – xã hội giàu tính nhân văn, góp phần tôn vinh, chia sẻ những giá trị cao đẹp trong cộng đồng  dòng họ Ninh và những người quan tâm, đặc biệt là giới trẻ.

DANH MỤC

 All Right Reserved. Designed and Developed by honinh.com