<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Khảo cứu &#8211; Website chính thức của dòng họ Ninh tại Việt Nam</title>
	<atom:link href="https://honinh.com/khao-cuu/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://honinh.com</link>
	<description>Họ Ninh Việt Nam</description>
	<lastBuildDate>Sun, 03 May 2020 10:58:25 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	

<image>
	<url>https://honinh.com/wp-content/uploads/2018/11/Logo.jpg</url>
	<title>Khảo cứu &#8211; Website chính thức của dòng họ Ninh tại Việt Nam</title>
	<link>https://honinh.com</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Thơ văn nói về tổ nghề mộc Ninh Hữu Hưng &#8211; Tác giả: Dương Văn Hòe</title>
		<link>https://honinh.com/tho-van-noi-ve-to-nghe-moc-ninh-huu-hung-tac-gia-duong-van-hoe/</link>
					<comments>https://honinh.com/tho-van-noi-ve-to-nghe-moc-ninh-huu-hung-tac-gia-duong-van-hoe/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 17 Jun 2019 13:56:09 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2580</guid>

					<description><![CDATA[]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[
<p>Lời tựa:</p>
<p>Tập sách có tên&#8221;thơ văn chữ Hán nôm nói về tổ nghề mộc Ninh Hữu Hưng&#8221; này viết việc ông Ninh vốn là người theo Đinh Bộ Lĩnh từ lúc mới khởi quân, làm tướng Tiên phong. Khi dẹp xong các sứ quân cá cứ lãnh thổ, thống nhất cương vực, tự ông Đinh đặt Quốc hiệu, lên ngôi hoàng đế; sai Nguyễn Bặc, Phùng Gia khảo sát vùng đất làng Lau rộng lớn ở phía đông Chi Phong năm 968, rồi lại xem năm 969 xây dựng tới năm 971 thì tạm ổn định, đặt tên kinh đô là Hoa Lư (làng Lau). Việc xây dựng này, người chỉ đạo làm là bọn Nguyễn Bặc; người cắt gỗ lắp đặt là bọn Ninh Hữu Hưng; vẽ kiểu mẫu là vợ của ông Ninh. Trong cuộc chống Tống, ông Ninh, Phùng gia, ông Nguyễn được cử giữ thành. Khi nội loạn, ngoại xâm yên cả, vua Lê sai ông mở rộng kiến trúc, sửa lại kinh đô, rồi được vua cho ông theo đi tịch điền. Trên đường trở lại kinh, vua bố trí cho ông ở lưu vực sông Sắt (Kim Xuyên) sửa đền thờ cá tướng con vua Hùng, Bà Trưng rồi lập ấp truyền nghề tại đó.</p>
<p>Thời Lý, vua Công Uẩn ra Thăng Long, cháu ông là Ninh Khắc Viễn đã cùng anh em ra dựng Bạc thành và đô Thăng Long. Vì tiếng ấy được vua Lý phong ông là &#8220;Lão La đại thần tiên sư&#8221;, trở thành người truyền nghề mộc và thôi thúc đến cực thịnh. Từ thời Lý đến thời Lê Trịnh, đã có tới 28 làng có tên Ninh. Hậu duệ đã sang Bắc quốc làm nghề mà trong các gia phả chi họ Ninh, họ Đinh, họ Nguyễn đã chép rõ (họ Đinh, họ Nguyễn có gốc họ Ninh).</p>
<p>Qua nhiều năm đội gió mưa khai thác, số văn tự Hán &#8211; Nôm đã sưu tầm biên dịch được, chỉ là một phần đã biết, riêng phần ở tại đền Ninh Xá là do ông Dương Văn Vượng đã làm cách đây hơn 20 năm, tôi chỉ chép lại, gộp vào cho các học giả tiện việc đối chiếu. Phần tôi làm có 20 bài thì chép lại của các ông Bùi Đức Bồng, Bùi Đức Hân, Phạm Văn Phổ (Cháu ông Phổ là ông Đản), Vũ Văn Uyên, Chánh Xuân, Đỗ Úc, chị em ông Nguyễn Quang Tuệ, Thừa Lộc, Đỗ Trung Hới (xem chi tiết ở từng bài). Thực ra, không chỉ có thế, nhưng do hạn hẹp mọi mặt nên tạm bằng lòng vậy!</p>
<p>Phần dịch nghĩa chú thích, tôi đã nhờ cụ Ninh Đức Thái, thôn Ninh xá Thượng, xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, xem xét, qua tay ông Phùng Xuân Yến thôn An Cừ hạ, xã Yên Bình, cùng huyện đóng góp ý kiến. Xin đặc biệt cảm ơn! Lại cũng xin chân thành cảm ơn các vị đã cung cấp tư liệu, hòng làm rõ hơn về lịch sử ông Ninh, tổ nghề thợ mộc ở thế kỷ thứ X. Việc dịch nghĩa, dịch thơ, chú thích, tôi đã cố gắng giữ gìn ý chính, song do học vấn non kém, tất còn nhiều chỗ sai sót, mong các quý vị cao minh rủ lòng tha thứ và vui vẻ chỉ bảo, để khi có điều kiện sẽ sửa đổi được tốt hơn. Ngõ hầu bảo lưu vốn văn tự có ý nghĩa, không bị mai một được hiệu quả!</p>
<p>Ngày 1-5-2011</p>
<p>Dương Văn Hòe</p>
<p>Bài 1: Ninh xá mộc tượng tổ từ</p>
<p>1<br />寧舍木匠祖祠<br />泰黎先帝寓於匠斯<br />妻子咸來建屋居<br />芝色諸人同應補<br />鐵林本處力匡扶<br />木工自此興營造<br />巧藝他方亦富餘<br />聞道遷都從李主<br />萡城誰战大江區</p>
<p>Phiên âm:</p>
<p>Phụng Lê Tiên đế ngụ ư tư</p>
<p>Thê tử hàm lai kiến cốc cư</p>
<p>Chi ấp chư nhân đồng ý phụng</p>
<p>Thiết Lâm bản xứ lực khuông phù</p>
<p>Mộc công tự thử hưng doanh tạo</p>
<p>Xảo nghệ tha phương việc phúc dư</p>
<p>Văn đạo thiên đô tòng Lý chủ</p>
<p>Bạc thành thùy thức, Đại giang khu.</p>
<p>Dịch nghĩa: </p>
<p>Đền thờ tổ nghề mộc Ninh xá(*)</p>
<p>Vâng mệnh Lê Tiến đế ngụ lại ở chốn này</p>
<p>Cùng đi có cả vợ con dựng nhà cư trú(1)</p>
<p>Mọi người ở làng Chi cũng ra sức giúp đỡ và dân bản xứ Thiết Lâm lại gắng sức phù trì(2)</p>
<p>Thế rồi nghề mộc từ ấy được mở mang khéo léo, người đi xa ra ngoài kiếm việc làm cũng giàu có.</p>
<p>Nghe nói thời vua Lý dời đô cũng nhiều người đi theo tới Bạc thành trên khu đất Đại giang. (3)</p>
<p>Dịch thơ:</p>
<p>Vâng mệnh vua Lê ở chốn này</p>
<p>Bầu đoàn thê tử có nhà đây</p>
<p>Thiết Lâm bản hạt đều quay lại</p>
<p>Chi ấp quê xưa cũng đến ngay</p>
<p>Thợ mộc từ nay thêm thịnh đạt</p>
<p>Tay nghề đất khách cũng hăng say</p>
<p>Lý hoàng thưở trước dời đô mới</p>
<p>Mời ngụ thành sông mấy kẻ hay?</p>
<p>Chú thích: </p>
<p>*Bài thơ của Lương Thế Vinh, ông người xã Cao Hương huyện Thiên Bản, đỗ Trạng Nguyên năm Quang Thuận thứ 4(1463), quan Hàn Lâm viện thị giảng. Bài chép trong sách Sơn Nam thuật dị truyện của Vũ Huy Trác, do gia đình cụ Bùi Đức Bồng, xã Tam Đăng, huyện Đại An lưu giữ.</p>
<p>(1). Ninh Xá: Nay là tên thôn, thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định. Ở đó có 2 làng Ninh Xá, La Xuyên (Cùng xã Yên Ninh, tỉnh Nam Định) đều thờ ông Ninh với hiệu là Lão La đại thần, xem phần sự tích).</p>
<p>2. Thiết Lâm: Cả vùng xã Yên Ninh hiện nay</p>
<p>3. Bạc thành: Nay thuộc đất Phú Thượng thuộc quận Tây Hồ, thủ đô Hà Nội. Nơi này còn có tên bến Bạc, bến đỗ thuyền của vua quan nhà Lý dời Hoa Lư khi mới đến đất Thăng Long. Bài của Vũ Huy Trác:</p>
<p>Ngã văn giang bạn hữu thuyền lai</p>
<p>Lý tổ sơ cư bất phóng hoài</p>
<p>Nhật mộ chí tham niên hựu lão</p>
<p>Vị cưu quốc sự thượng bồi hồi</p>
<p>Dịch nghĩa:</p>
<p>Tôi nghe Lý tổ  mới ra đây</p>
<p>Thuyền đỗ bến sông tại chốn này</p>
<p>Chiều xuống bận lo cho cho quốc sự</p>
<p>Già rồi muốn đến khó khăn thay</p>
<p>(Xem thêm chú thích bài Hoa lư cố kinh ở dưới).</p>
<p>Bài 2: Hoa Lư cố kinh hữu cảm (*)</p>
<p>花閭故京有感<br />先者何人?定都<br />丁皇始設一前基<br />金銀有庫粧宮室<br />林輦為樑巧藝鋪<br />此日寧公宮鑒察<br />當時阮將?規模<br />風中花草從南伏<br />兆賊將侵不早圖</p>
<p>Phiên âm:</p>
<p>Tiên giả hà nhân nghĩ định đô</p>
<p>Đinh hoàng thủy thiết nhất tiền cơ</p>
<p>Kim ngân hữu khố trang cung thất</p>
<p>Lâm liền vi lương xảo nghệ phô</p>
<p>Thử nhật Ninh công quan giảm sát</p>
<p>Đương thời Nguyễn tướng hoạch quy mô</p>
<p>Phong trung hoa thảo tòng nam phục</p>
<p>Bắc tặc tướng xâm bất tảo đồ</p>
<p>Dịch nghĩa: </p>
<p>Cảm xúc nhân tới kinh đô cũ Hoa Lư</p>
<p>Từ trước có ai nghĩ việc định đô ở đây, chỉ có vua Đinh xây dựng cơ sở là đầu.</p>
<p>Vàng bạc có kho dùng để điểm tô cung thất, còn rường cột thì dùng lim, nghiến để khoe nghề khéo.</p>
<p>Khi ấy ông Ninh công làm nhiệm vụ giám sát, còn Nguyễn tướng thì vạch ra quy cách! (1)</p>
<p>Nay trong làn gió, cỏ hoa đều nằm rạp theo hướng nam cả, bọn giặc phương Bắc sắp sang đến nơi rồi sao chẳng sớm liệu đi.</p>
<p>Dịch thơ:</p>
<p>Từ trước nào ai nghĩ định đô?</p>
<p>Đinh hoàng mới tới dựng cơ đồ</p>
<p>Bạc vàng dự trữ đem trang sức</p>
<p>Lim nghiến đem về sẵn điểm tô</p>
<p>Ngày ấy Ninh công quan giám sát,</p>
<p>Bấy giờ Nguyễn tướng vạch quy mô.</p>
<p>Cỏ hoa theo gió về nam rạp</p>
<p>Giặc Bắc này mai sớm liệu cơ!</p>
<p>Chú thích: </p>
<p>Bài này của Đặng Thụy khi cùng vợ về đất Hoa Lư. Đặng Thụy (1649 &#8211; 1735). Ông còn có tên là Đình Tướng, Đình Nhị, tên hiệu là Trúc Trai, tước Ưng Quận công, người xã Lương xá, huyện Chương Đức (nay là Chương Mỹ), đỗ tiến sỹ năm Cảnh Trị thứ 8(1670). Bài do Tri huyện Vụ Bản Vũ Duy Đệ, chép trong sách Vũ gia thuật cổ chí. Sách do Bùi Đức Hân xã An Trung, huyện Đại An lưu giữ. </p>
<p>Cũng theo Đăng Thụy thì Ninh Hữu Hưng đã phò Đàm Thụy Hoa là em của Thái hậu về quê ở đất An Biện (nay thuộc xã Mỹ Thắng, Mỹ Lộc, Nam Định).</p>
<p>(1). Giám sát: Tức Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân, xem thần tích đền Ninh Xá ở dưới.</p>
<p>Nguyễn tướng: Định quốc công Nguyễn Bặc.</p>
<p>Bài 3: Tầm vấn Chi Phong Ninh gia, thỉnh ký thủy mạt(*)</p>
<p>尋問芝封寧家請記始末<br />春游請問寧家<br />芝封住色自何方臨<br />土豪寧遠州尋<br />荒年易度深林不還<br />應五代至鑒官<br />奉導建造亦安身形<br />史書錯簡無評<br />我將直筆郰呈後人</p>
<p>Phiên âm:</p>
<p>Xuân du thỉnh vấn Ninh gia</p>
<p>Chi Phong trú ấp tự hạ phương lâm</p>
<p>Thổ hào Ninh Viễn châu tầm</p>
<p>Hoang niên dịch độ thâm lâm bất hoàn</p>
<p>Lịch ngũ đại chí giám quan</p>
<p>Phụng tuân kiến tạo diệc an thân hình</p>
<p>Sử thư thác giản vô bình</p>
<p>Ngã tương trực bút liêu trình hậu nhân.</p>
<p>Dịch nghĩa: </p>
<p>Tìm đến nhà họ Ninh ở Chi Phong, xin ghi chép đầu đuôi sự việc</p>
<p>Mùa xuân đi chơi hỏi đến việc họ Ninh ở đâu tới đất Chi Phong</p>
<p>Vốn là thổ hào tại châu Ninh Viễn, do mất mùa dịch độ đến khu rừng này rồi không về cựu quán</p>
<p>Đến ông Ninh làm Giám quan ở đây là 5 đời.</p>
<p>Vâng mệnh xây dựng đô ấp cũng được yên lành</p>
<p>Mà sử thư thì lẫn lộn sao ấy không nhắc đến</p>
<p>Thôi thì tôi dùng ngọn bút ngay thẳng viết ra để nhắc nhở người sau.</p>
<p>Dịch thơ: </p>
<p>Chơi xuân tìm hỏi Ninh gia</p>
<p>Chi Phong làng ấy có nhà tại sao</p>
<p>Quê châu Ninh Viễn thổ hào</p>
<p>Mất mùa dịch độ tìm vào rừng sâu</p>
<p>Năm đời giám sát chưa lâu</p>
<p>Dựng đô phụng mệnh cũng hầu yên thân</p>
<p>Sử thư lẫn lộn lời văn</p>
<p>Xin đem trực bút gợi phần sau xưa.</p>
<p>Chú thích: </p>
<p>(*) Bài thơ của Hồ Gia Tân viết trong sách Ninh gia lịch đại chí do Phạm Văn Phổ, Tam Đăng, Đại An chép lại. Hồ có hiệu là Thọ Mai, người xã Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đỗ tiễn sĩ năm Bảo Thái thứ 2(1721), quan hàn lâm thị chế. Ông viết trong dịp ra thăm họ Lê ở xã Yên Dương, huyện Ý Yên.</p>
<p>Nguyên chú: (Hồ Gia Tân 1690 &#8211; 1760). Bài của Lê Hữu Danh. Hữu Danh hiệu là Xuân Am người Văn Xá, huyện Đường Hào, đỗ Hoàng Giáp năm Cảnh Trị 8(1670) quan đến Hiến sát sứ phủ Kinh Bắc. Vịnh về ông Ninh Hữu Hưng:</p>
<p>Đinh hoàng hữu Ninh tướng</p>
<p>Tả hữu dùng Phụng công, </p>
<p>Điền thị dữ Đàm Thị</p>
<p>Ư Tây hựu ư Đông,</p>
<p>Kiến đô thành bất dị sự tại khởi vô công.</p>
<p>Sơn giác nhân do niệm, hà ưu khí tổ tông.</p>
<p>Dịch:</p>
<p>Vua Đinh có Ninh tướng</p>
<p>Giúp đỡ còn Phùng công</p>
<p>Điền thị với Đàm thị</p>
<p>Bên Tây cùng bên Đông</p>
<p>Dựng đô thành chẳng dễ</p>
<p>Việc ấy há không công</p>
<p>Xó núi người còn nhớ</p>
<p>Lo gì bỏ tổ tông!</p>
<p>Bài số 4: Xuân nhật bái Ninh Xá phúc thần miếu</p>
<p>春日拜寧舍福神廟<br />四散無回拜祖居<br />祖家目下一蕉墟<br />後移鉄岸留祠所<br />前日荒坟認廟基<br />千載何人來採省<br />五方施藝或精粗<br />政和美字黎皇贈<br />拽火相傳莫話虛</p>
<p>Phiên âm: </p>
<p>Tứ tán vô hồi bài tổ cư</p>
<p>Tổ gia mục hạ nhất tiêu khư</p>
<p>Hậu di Thiết Ngạn lưu từ sở</p>
<p>Tiền nhật hoang phần nhận miếu cơ</p>
<p>Thiên tài hà nhân lai thám tỉnh</p>
<p>Ngũ phương thi nghệ hoặc tinh thô</p>
<p>Chính Hòa mỹ tự Lê hoàng tặng</p>
<p>Duệ tỏa hương truyền mạc thoại hư!</p>
<p>Dịch nghĩa: </p>
<p>Ngày xuân đến lễ miếu phúc thần đất Ninh xá</p>
<p>Đi tản cư khắp nơi không quay về lễ tại nơi thờ tổ, trước mắt nhà tổ chỉ là một khu vườn chuối</p>
<p>Sau khi dời quê cũ thì về Thiết Ngạn còn có đền thờ,</p>
<p>Xưa kia đã do nơi mồ cũ mà nhận ra nền miếu. </p>
<p>Trải qua ngàn năm có ai thăm viếng, người đi mọi phương trời làm nghề dù khéo dù không.</p>
<p>Thời Chính Hòa vua Lê đã ban mỹ tự khen ngợi</p>
<p>Nơi đây có tục kéo lửa truyền đến ngày nay chớ bảo rằng chuyện hư hão.</p>
<p>Dịch thơ:</p>
<p>Tán bốn phương trời quên đất tổ</p>
<p>Mắt nhìn vườn chuối chốn nhà đây</p>
<p>Dời ra Thiết Ngạn còn đền đó</p>
<p>Đám cỏ mồ hoang chỉ miếu này</p>
<p>Ngàn thuở có ai thăm đền nữa</p>
<p>Năm phương nghề thợ sống lâu nay</p>
<p>Chính Hòa chữ đẹp vua Lê tặng</p>
<p>Kéo lửa người xem luống nói hay.</p>
<p>Chú thích:</p>
<p>*). Bài thơ của Hồ Phi Tích: Ông người xã Hoàn Hậu, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, đỗ Hoàng giáp niên hiệu Chính Hòa 21(1700), quan hình bộ thượng thư, tước Quỳnh quận công. Bài do Phạm Văn Phổ, Tam Đăng, Đại An, chép trong Ninh gia lịch đại chí của Hồ Gia Tân.</p>
<p>Nguyên chú: Ông Ninh là người khởi xướng dựng đền thờ Nguyễn Bặc ở Đông thành (thời Lê Trịnh đổi ra thành Mỹ, nay là Ninh Mỹ, Hoa Lư, Ninh Bình). Bài của Vũ Vĩnh Trinh, đỗ khoa Minh kinh năm Kỷ Dậu(1429) quan Hàn lâm Đại học sỹ, quê ở An Cự, Thiên Bản:</p>
<p>Thử thị Ninh công tạo thử từ</p>
<p>Nguyễn Phùng nhị vị bản thê cư</p>
<p>Nghĩa: Đền bởi Ninh công khởi dựng lên, Nguyễn Phùng quê vợ dám dâu quên, Thạch thành tú ngực tôn xưng hiệu, Công với Tiên hoàng thật đáng nên).</p>
<p>Xem thêm chú thích bài: &#8220;Ngày đông mặc bệnh dừng lại ở chợ Dền của Đỗ Thế Giai trong tập này và các bài khác.</p>
<p>Bài số 5: Đông nguyệt ngộ bệnh trú Dền thị</p>
<p>冬日遇病住㕓市<br />丁帝黎皇住此都<br />阮公始進號花閭<br />先成大殿三三簇<br />後造圍官九九廡<br />寧將鑒工連日作<br />田尼置景四時書<br />小修雙廟前觀在<br />北決牢扃不可無</p>
<p>Đinh đế, Lê hoàng trú thứ đô</p>
<p>Nguyễn công thủy tiến hiệu Hoa Lư</p>
<p>Tiên thành đại điện tam tam thốc</p>
<p>Hậu tạo vi cung cứu cửu vu</p>
<p>Ninh tướng giám công liên nhật tác</p>
<p>Điền ni trí cảnh tứ thời thư</p>
<p>Tiểu tu song miếu tiền quan tại</p>
<p>&#8220;Bắc khuyết lao quynh&#8221; bất khả vô.</p>
<p>Dịch nghĩa: </p>
<p>Ngày đông mắc bệnh dừng lại ở chợ Dền</p>
<p>Hai vua Đinh, Lê từng đóng đô trên đất này</p>
<p>Ông Nguyễn(1) đã dâng lên hiệu là Hoa Lư</p>
<p>Ban đầu xây chín ngôi đại điện, rồi sau lại tạo thêm tám mươi mốt tòa vi cung</p>
<p>Quan giám sát là vị tướng họ Ninh suốt ngày làm việc, còn sư nữ họ Điền thì quanh năm vẽ hình tượng(2)</p>
<p>Nay trước mắt chỉ có hai khu miếu còn có chữ &#8220;Bắc khuyết lao quynh&#8221; không thể không quan tâm đến. (3)</p>
<p>Dịch thơ: </p>
<p>Đinh đế Lê hoàng đóng tại đây</p>
<p>Hoa Lư, Nguyễn tướng đặt tên này</p>
<p>Ban đầu đại điện ba, ba nóc</p>
<p>Rối tiếp vi cung chín, chín vây</p>
<p>Giám sát Ninh công liên tục dựng</p>
<p>Điền ni vẽ cảnh cũng liền tay</p>
<p>Sửa qua còn lại hai khu miếu</p>
<p>&#8220;Cửa Bắc gài then&#8221; nhớ mỗi ngày.</p>
<p>Chú thích: </p>
<p>*: Bài thơ của Đỗ Thế Giai (1709-1766). Người xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, Hà Nội. Quan dưới triều Lê (Hoàng Diệu &#8211; Hà Nội trung hưng chí, Bùi Đức Bồng thôn Tam Quang xã Yên Thắng, Ý Yên lưu giữ)</p>
<ol>
<li>Nguyên chú: Nguyễn Bặc cùng các quan Ninh Hữu Hưng, Phùng gia, Điền ni, Đàm ni, Cao Mộc quản lý xây dựng Hoa Lư thành.</li>
<li>Theo sách Hoa Lư thành ký chí của Phan Đình Hòe (Người giữ sách là ông Thừa Lộc Hành Thiện, Xuân Hồng, Xuân Trường, Nam Định) thì ông Phùng gia là người đi khảo sát địa bàn và tham gia xây dựng. Lần đầu năm 968, thứ 2 năm 969, thứ ba năm 971. </li>
</ol>
<p>Ông Phùng Gia nay còn mộ ở thôn Bườm, xã Mỹ Thắng, huyện Mỹ Lộc, Nam Định. Tại mộ có câu đối: Nhất thống dư đồ, định đỉnh Mậu Thìn tam tá mệnh &#8211; Trùng doanh miếu vũ long phi Canh Ngọ ngũ niên xuân. Và câu: Lư địch thôn đầu dư cố lũy, tùng thu lăng thượng khới tân đài. Tại đây còn đền thờ Đàm thái hậu, Phùng gia, Cao Mộc&#8230;</p>
<p>3. Cũng theo Phan Đình Hòe thì cổng trước to hơn có chữ &#8220;Bắc khuyết lao quynh&#8221; đến thời Nguyễn mới đối ra chữ &#8220;Bắc môn tỏa thược&#8221;. Nghĩa các chữ này đều là chú trọng đến cửa phía Bắc. Bài Cảnh thế vịnh của Phan: Tự cổ lai xâm thị Bắc phương, Bắc phương tiên triệu nhật phương cường. Tây nhân bất cửu hồi Tây cảnh, Chỉ yếu gia tình quốc thế chương. (Từ xưa kẻ cướp đều quân Bắc, Quân Bắc nay mai thế mạnh lên, Chẳng mấy người Tây về hết cả, Tình nhà thói nước chớ nên quên).</p>
<p>Bài số 6: Hoa Lư cố kinh hữu cảm</p>
<p style="text-align: center;">花閭故京有感<br />花閭此日有閭無<br />事事傳來哭災鋪<br />草野使君平亦易<br />帝皇稱始理何子<br />牧牛難辦興裏義<br />聚眾渄關善惡徒<br />丁將寧公嫌棄直<br />范官楊女信之乎</p>
<p>Hoa Lư thử nhật hữu lư vô</p>
<p>Sự sự truyền lại khốc tiếu phô</p>
<p>Thảo dã sứ quân bình diệc dị</p>
<p>Đế hoàng xưng thủy lý hà cô</p>
<p>Mục ngưu nan biện hưng suy nghĩa</p>
<p>Tụ chúng phi quan thiện ác đồ</p>
<p>Đinh tướng, Ninh công hiềm khí trực</p>
<p>Phạm quan, Dương nữ tín chi hồ.</p>
<p>Dịch nghĩa: </p>
<p>Cảm xúc qua đất cố kinh Hoa Lư</p>
<p>Đất làng hoa ngày ấy có làng không</p>
<p>Việc việc truyền lại cười khóc có đủ cả</p>
<p>Nếu nói dẹp các sứ quân cỏ rác dễ thôi, nhưng việc xưng hiệu hoàng đế ban đầu phải nói là lý đúng được nhiều tán thưởng.</p>
<p>Trẻ chăn trâu không chia chỉ được lẽ hưng suy tụ hội người thì không phân biệt được kẻ dữ lành.</p>
<p>Lại hiềm với Đinh tướng, Ninh công mà tin theo bọn Phạm quan, Dương nữ (1).</p>
<p>Dịch thơ:</p>
<p>Làng Hoa thuở ấy có làng không</p>
<p>Cười khóc nghe ra cũng chạnh lòng</p>
<p>Cỏ rác sứ quân đành dễ dẹp</p>
<p>Đế xưng hiệu mới thật anh hùng</p>
<p>Dữ lành tụ cả, quân ô hợp</p>
<p>Suy thịnh không lo: lũ mục đồng</p>
<p>Đinh tướng, Ninh công , ruồng bỏ ý</p>
<p>Phạm quan, Dương nữ, lại tin dùng!</p>
<p>Chú thích: </p>
<p>* Bài của Vũ Huy Trác, Vũ người xã Lộng Điền, huyện Đại An, đỗ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân khoa Nhâm Thìn (1772) đời Lê Hiển Tông, quan Hàn Lâm viện thị giảng, Lễ bộ tả thị lang kiêm Quốc tử giám Tu nghiệp, có nhiều tác phẩm viết về lịch sử bản quốc. Bài này của ông Vũ Văn Uyên, xóm Dinh, xã Yên Đồng cung cấp.</p>
<p>Nguyên chú: Người giúp việc dựng cung điện ở Hoa thành ngoài Ninh công còn có Phùng công ở An Biện, Nguyễn công ở Đồi Tam. Bài viết về Phùng công của Đinh Mùi khoa (1487) nhị giáp tiến sĩ xuất thân, người Phùng Xá, Ý Yên, tên là Đinh Trung Thuần: Cử gia thế tử phụ Đinh hoàng, Thập đạo quyền uy bất khả đương; Úy họa Biện hương xu bộ phản; Bảo thân cố quán dĩ tàm tang. (Cả nhà lớn bé giúp vua Đinh, Thập đạo uy quyền cũng đáng kinh, sợ vạ lánh thân về đất Biện, Dâu tằm cố quán cũng yên lành).</p>
<p>1. Đinh tướng: chỉ bọn Đinh Điền; Ninh công: chỉ bọn Ninh Hữu Hưng; Phạm quan: chỉ bọn Phạm Cự Lượng; Dương nữ: chỉ bọn Dương Vân Nga; Ở đây ví rằng người trung thực thì không tin mà lại tin dùng kẻ đầu cơ trục lợi, gian ác.</p>
<p> </p>
<p>(Còn tiếp&#8230;)</p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
<p> </p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/tho-van-noi-ve-to-nghe-moc-ninh-huu-hung-tac-gia-duong-van-hoe/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Một số Đạo sắc phong ở Côi Trì về cụ Ninh Địch</title>
		<link>https://honinh.com/mot-so-dao-sac-phong-o-coi-tri-lien-quan-den-ninh-dich/</link>
					<comments>https://honinh.com/mot-so-dao-sac-phong-o-coi-tri-lien-quan-den-ninh-dich/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 07 Mar 2019 08:59:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2232</guid>

					<description><![CDATA[Ninh Địch sinh năm 1687, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, đỗ Hoàng Giáp (Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân) khoa Mậu Tuất, niên&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ninh Địch sinh năm 1687, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, đỗ Hoàng Giáp (Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân) khoa Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 14 (1718), giữ chức quan Huấn Đạo. Cụ là anh của Ninh Ngạn và bác của Ninh Tốn.</p>
<p>Trong số các Sắc phong còn lưu giữ tại Nhà thờ họ Ninh tại Côi Trì, có một số Sắc phong liên quan đến Ninh Địch.</p>
<p><strong>1.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1717</strong></p>
<p><img fetchpriority="high" decoding="async" class=" wp-image-2233 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/1NinhDich1717-300x99.png" alt="" width="718" height="237" /></p>
<p><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Thanh Liêm huyện &#8211; Côi Trì xã &#8211; Huấn đạo Ninh Địch. Vi Mậu Tuất khoa tứ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, thưởng ngũ tư. Phụng Đại nguyên soái tổng quôc chính sư thượng An Vương chỉ chuẩn nhậm chức tiến triều ứng vụ hữu triều đình kiểm nghị ứng nhậm Hiệu Lý chức, khả vi Cẩn sự lang, Hàn lâm viện hiệu lý &#8211; hạ liên. Cố sắc. Vĩnh Thịnh thập tứ niên, thập nguyệt nhị thập bát nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Huấn đạo Ninh Địch, người xã Côi Trì huyện Thanh Liêm. Khoa thi năm Mậu Tuất ban cho trúng đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, thưởng cho ngũ tư. Nay phụng đại nguyên soái tổng quốc chính sự thượng An vương chỉ chuẩn cho được tiến triều nhậm chức, giải quyết công vụ. Đã được triều đình kiểm nghị đáng được nhậm chức Hiệu Lý, nay khá thăng làm Cẩn sự lang, Hàn lâm viện hiệu lý, bậc hạ liên Vậy ban chiếu sắc Ngày 28 tháng 10 năm Vĩnh Thịnh 14 (1717)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1719</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2236 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/2NinhDich1719-2-300x99.png" alt="" width="742" height="245" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Cẩn Sự lang &#8211; Hàn Lâm viện Hiệu lý, Hạ liên &#8211; Ninh Địch, vi nhậm chức phả xứng, phụng Đại nguyên soái tổng quốc chính Sư thượng phụ Uy minh Nhân công Thánh đức An Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Đãi chế chức khả vi Mậu lâm tá lang, Hàn lâm viện đãi chế, Hạ giai. Cố sắc. Vĩnh Thịnh thập lục niên, lục nguyệt thập lục nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Cẩn Sự lang &#8211; Hàn Lâm viện Hiệu lý, Hạ liên là Ninh Địch vì ông nhậm chức xứng đáng, phụng chỉ phụng Đại nguyên soái tổng quốc chính Sư thượng phụ Uy minh Nhân công Thánh đức An Vương chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Đãi Chế, khá thăng phong là Mậu lâm tá lang, Hàn lâm viện đãi chế, Hạ giai. Vậy ban chiếu sắc Ngày 16 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh thứ 16 (1719).</p>
<p><strong> 3. </strong><strong>Sắc phong cho Ninh Địch năm 1725</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2237 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/5NinhDich1725-300x88.png" alt="" width="720" height="211" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc! Mậu Lâm tá lang, Hàn Lâm viện đãi chế hạ giai &#8211; Ninh Địch vi nhậm mãn xứng chức. Phụng đại nguyên soái tổng quốc chính sư thượng Thượng phụ Uy minh nhân công thánh đức An Vương chỉ chuẩn, hữu triều thần kiểm nghị ứng thăng Hiến sát sứ chức, khả vi Mậu Lâm lang Hải Dương đẳng xứ, Thanh hình hiến sát sứ ty hiến sát sứ hạ trật, cố sắc. Bảo thái ngũ niên, nhị nguyệt, nhị thập lục nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Sắc ban cho Mậu Lâm tá lang, Hàn Lâm viện đãi chế hạ giai là Ninh Địch. Vì nhậm chức mãn kỳ xứng đáng, phụng chỉ của Đại Nguyên soái tổng quốc chính sư thượng Thượng phụ Uy minh nhân công thánh đức An Vương (chúa Trịnh Cương), được các triều thần kiểm nghị, xứng đáng được thăng chức Hiến Sát sứ, khá thăng phong Mậu Lâm Lang Hải Dương đẳng xứ, hiến sát sứ của ty Thanh Hình bậc hạ trật. Vậy ban chiếu sắc. Ngày 26 tháng 2 năm Bảo Thái thứ 5 (1725)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1730</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2238 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/3NinhDich1730-300x99.png" alt="" width="761" height="251" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Hiển Cung đại phu,Đông các học sĩ tu thận thiếu doãn trung liệt Ninh Địch, vi hữu tâm thuật xứng chức khác địch trung cần phụng Đại nguyên soái thống quốc chính Uy Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Tự khanh chức khả vi Hoằng tín đại phu đại phu, Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển. Cố sắc. Vĩnh Khánh nhị niên, thất nguyệt sơ lục nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Hiển Cung đại phu,Đông các học sĩ tu thận thiếu doãn trung liệt là Ninh Địch vì ông có tâm thuật xứng đáng với chức vụ tỏ rõ lòng trung cần, phụng chỉ Đại nguyên soái thống quốc chính Uy Vương (Trịnh Giang) chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Tự Khanh, khá thăng phong là Hoằng tín đại phu đại phu, Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển. Vậy ban chiếu sắc Ngày 6 tháng 7 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730).</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>5.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1732</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><img decoding="async" class=" wp-image-2239 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/6NinhDich1732-300x89.png" alt="" width="751" height="223" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Hoằng Tín đại phu, phụng sai Nghệ An xứ phó đốc thị Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển Ninh Địch, vi hữu tâm thuật cán sự khác địch trung cần phụng Đại nguyên soái thống quốc chính thượng sư Uy Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Đại học sĩ chức khả vi Triều liệt đại phu, Đông các đại học sĩ, khuông mỹ thiếu doãn, trung chế. Cố sắc. Long đức nguyên niên, thập nhất nguyệt sơ cửu nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Hoằng Tín đại phu phụng sai xứ Nghệ An phó đốc thị Thái Bộc tự khanh tu thận doãn, trung tuyển là Ninh Địch vì ông có tâm thuật mẫn cán công việc tỏ rõ lòng trung cần, phụng chỉ Đại nguyên soái thống quốc chính thượng sư Uy Vương (Trịnh Giang) chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Đại Học sĩ, khá thăng phong là Triều liệt đại phu, Đông các đại học sĩ, khuông mỹ thiếu doãn, trung chế. Vậy ban chiếu sắc Ngày 9 tháng 11 năm Long Đức thứ nhất (1732)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>6.Sắc phong cho thân mẫu của Ninh Địch năm 1733.</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2240 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/4NinhDich1733-300x99.png" alt="" width="755" height="249" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Thanh Liêm huyện &#8211; Yên Phú đồng &#8211; Thiều Thị Thám, vi Triều liệt đại phu, Phụng sai Nghệ an xứ, phó đốc thị &#8211; Đông các đại học sĩ Ninh Địch thân sinh, Vô cố dự đắc phong tặng, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng phong tặng Nghi nhân. Khả phong tặng Nghi Nhân. Cố sắc. Long đức nhị niên, lục nguyệt thập nhị nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho người ở Yên Phú đồng, huyện Thanh Liêm là Thiều Thị Thám. Nay vì bà là thân sinh của ngài Ninh Địch giữ chức Triều liệt đại phu, Phụng sai Nghệ an xứ, phó đốc thị &#8211; Đông các đại học sĩ trước đây bà chưa được dự phong tặng. Đã có chỉ chuẩn suy xét khá thăng phong là Nghi nhân. Vậy tặng phong Nghi Nhân. Vậy ban chiếu sắc Ngày 12 tháng 6 năm Long đức 2 (1733).</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/mot-so-dao-sac-phong-o-coi-tri-lien-quan-den-ninh-dich/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>82 Văn bia tại Văn Miếu Hà Nội,  từ Khoa thi 1442 đến Khoa thi 1779</title>
		<link>https://honinh.com/82-van-bia-tai-van-mieu-ha-noi-tu-khoa-thi-1442-den-khoa-thi-1779/</link>
					<comments>https://honinh.com/82-van-bia-tai-van-mieu-ha-noi-tu-khoa-thi-1442-den-khoa-thi-1779/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sun, 18 Nov 2018 15:19:38 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2140</guid>

					<description><![CDATA[Trong Văn Miếu Hà Nội và Văn Miếu Bắc Ninh còn ghi danh các cụ: ♦ Ninh Hãng: đỗ Hoàng Giáp, Khoa thi năm 1478. ♦ Ninh Triết: đỗ Đệ&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Trong Văn Miếu Hà Nội và Văn Miếu Bắc Ninh còn ghi danh các cụ:</p>
<p><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/2666.png" alt="♦" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Ninh Hãng: đỗ Hoàng Giáp, Khoa thi năm 1478<strong>. </strong></p>
<p><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/2666.png" alt="♦" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Ninh Triết: đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, Khoa thi 1571 (xin xem Văn bia tại Văn miếu Bắc Ninh)</p>
<p><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/2666.png" alt="♦" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Ninh Đạt: đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, Khoa thi 1659</p>
<p><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/2666.png" alt="♦" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Ninh Địch: đỗ Hoàng Giáp, Khoa thi 1718</p>
<p><img src="https://s.w.org/images/core/emoji/15.0.3/72x72/2666.png" alt="♦" class="wp-smiley" style="height: 1em; max-height: 1em;" /> Ninh Tốn: đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ, Khoa thi 1778</p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; color: #800000;"><strong>VĂN BIA VĂN MIẾU HÀ NỘI</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; color: #800000;"><strong>(82 Văn bia,  từ Khoa thi 1442 đến Khoa thi 1779)</strong></span></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: 14pt; color: #800000;"><strong>Viện Nghiên cứu Hán Nôm dịch và chú thích</strong></span></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;">Bia số 1 VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU ĐẠI BẢO</p>
<p style="text-align: justify;"> NĂM THỨ 3</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA NHÂM TUẤT NIÊN HIỆU ĐẠI BẢO </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NĂM THỨ 3 (1442)</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>大寶三年壬戌科進士題名記</strong></p>
<p style="text-align: justify;">惟 聖明太祖高皇帝天錫智勇業茂經綸去暴除殘、拯斯民於塗炭。及武功耆定文德誕敷思欲招致俊髦作新治效迺詔天下建學育材、內有國子監、外有各府學、上親進官員 子孫、與凡民俊秀充入侍、近侍、御前各局學生、及國子監監生。又令有司廣選民間良家子弟充各府生徒。立師儒以教訓之、刊經籍以頒布之、育材之地固已廣矣。 至於取士之試、或以明經、或以賦論、或親問策題、各隨其材、不次擢用。當是時進士之科名雖未立、而崇仁之實取士之方大概已備、開萬世太平之基、端在是矣。 於皇太宗文皇帝、紹述洪業、敷賁前光、觀乎人文、化成天下。以重道隆儒為首務、以籲俊尊帝為良圖；慮夫設科取士、為治當先、黼黻皇猷、恢張治化者在此、所 以修政立事、化民成俗者亦在此古先帝王克臻治效莫不由斯。</p>
<p style="text-align: justify;">聖祖皇帝已定規模未及施用光前振後此惟其時。迺於大寶三年壬戌大開春闈、會試多 士。時應舉者四百五十名、歷試四場、入彀者三十有三。蒞事有司以其名進、上命擇日賜對于廷。當時提調官則尚書左僕射臣黎文靈監試官則御史臺侍御史臣趙泰暨 巡綽收卷彌封謄錄封讀等官、各供其事。二月初二日上御會英殿、親賜策問。翌日讀卷官翰林院承旨學士兼中書國史事臣阮薦中書省中書侍郎臣阮夢荀內密院知院事 臣陳舜俞國子監博士臣阮子晉奉卷進讀上陳睿覽第其高下賜阮直狀元阮如堵榜眼梁如鵠探花郎陳文徽等七名進士吳士連等二十三名附榜因前代名稱也。三月初三日唱 名掛榜示多士美觀也。恩命爵秩以旌異之冠帶衣服以粉飾之瓊林賜宴示懿惠之恩既馬送歸、表寵眷之意。長安士庶到處聚觀咸以為聖上崇儒古今穻見。初四日狀元阮 直等拜謝恩表初九日辭陛榮歸此聖世初科恩榮之盛事至今以為美談。自時厥後聖繼神傳率循舊典。於惟皇上中興大業丕闡人文制度一新聲明大備至於取士之法尤所用 情凡先朝所己行者遵而守之；先朝所未備者增而廣之。臚傳揭榜之後又有立石題名所以示久遠之致勸。良法美意至矣盡矣。猗歟盛哉！玆以大寶三年以來諸科立石題 名猶為闕典；禮部尚書郭廷寶等祇承上命第其名次勒于堅且請改狀元榜眼探花郎為進士及第附榜為同進士出身以合今制。上可其奏命臣申仁忠等分撰記文臣恭奉德音 不勝欣幸。仰惟立石一舉則聖祖神宗求賢圖治之盛意得以永傳示是乃勵世之大權斯文之大幸臣雖淺拙安敢終辭謹拜手稽首而記之曰賢材國家之元氣元氣盛則國勢強以 隆元氣餒則國勢弱以污是以聖帝明王莫不以育材取士培植元氣為先務也。蓋士之關係於國家如此其重故崇尚之意殆無終窮既寵之以科名又隆之以爵秩恩至溥也猶以為 未足又標諸鴈塔之題載褒以龍虎之號筵開聞喜廷賀得人無所不用其極也。</p>
<p style="text-align: justify;">今方聖明又以為美觀盛事雖已赫奕於一時永譽流芳未足昭垂於久遠故又立題立石置之賢關俾多士仰瞻歆羨興起敦厲名節勵相皇家豈徒尚虛名事虛文而已哉吁草芽場屋之士一介甚微而得朝廷崇尚如此其至為士者所以自重其身而圖報效當何如耶</p>
<p style="text-align: justify;">姑以此一科姓名而歷數之其以文學政事黼黻治平數十年來為國家用者多矣間以賄貨而敗或陷姦宄之流者亦不能無蓋以生前未賭此貞石耳。倘使當時目及見之則善心油然惡念頓沮其敢有此萌蘗乎</p>
<p style="text-align: justify;">然則斯石一立裨益良多惡者可以為懲善者可以為勸明徵既往廣示將來一則為砥礪多士名節之資一則為堅凝國家命脉之助聖神制作夫豈徒然凡屬觀瞻尚知深意臣謹記</p>
<p style="text-align: justify;">奉直大夫翰林院承旨東閣大學士臣申仁忠奉敕撰</p>
<p style="text-align: justify;">謹事郎中書監正字臣阮竦奉敕書</p>
<p style="text-align: justify;">茂林郎金光門待詔臣蘇碍奉敕篆</p>
<p style="text-align: justify;">皇越洪德十五年八月十五日立。</p>
<p style="text-align: justify;">Lớn lao thay! Thánh triều ta, Thái Tổ Cao hoàng đế, trời ban trí dũng, nghiệp lớn kinh luân, diệt bạo trừ tàn, cứu dân sinh khỏi chốn lầm than. Ngay khi vũ công đại định, văn đức sửa sang, muốn chiêu tập hiền tài, canh tân chính trị. Bèn xuống chiếu cho các nơi trong nước dựng nhà học để đào tạo nhân tài. Tại kinh đô có Quốc tử giám, ngoài các phủ có trường học. Thánh thượng đích thân chọn con cháu quan viên và thường dân tuấn tú vào làm học sinh ở các cục Nhập thị, Cận thị, Ngự tiền, cùng là giám sinh ở Quốc tử giám. Lại sai quan chuyên trách rộng chọn con em các nhà lương thiện vào làm sinh đồ ở các trường phủ, cử thày dạy dỗ, in kinh sách ban phát, đất trồng tài năng thực đã rộng mở. Còn như phép tuyển chọn kẻ sĩ, hoặc hỏi nghĩa lý kinh điển, hoặc các đề phú luận, hoặc Thánh thượng đích thân ra đề thi văn sách, tùy tài học từng người mà bổ dụng. Lúc bấy giờ tên gọi khoa thi Tiến sĩ tuy chưa đặt ra, nhưng thực chất đề cao Nho học và phép chọn người thì đại khái đã có đủ. Nền thái bình muôn thuở thực đã bắt đầu từ đây.</p>
<p style="text-align: justify;">Ôi! Thái Tông Văn hoàng đế nối giữ nghiệp lớn, làm rạng rỡ ông cha, xem xét nhân văn, giáo hóa thiên hạ. Lấy việc trọng đạo Nho làm việc hàng đầu, coi kén chọn anh tài tôn trọng hiền sĩ làm mưu lược tốt. Nghĩ việc đặt khoa thi, kén kẻ sĩ là chính sự cần làm trước nhất. Tô điểm cơ đồ, khôi phục mở mang trị hóa chính là ở đây; mà sửa sang chính sự, sắp đặt công việc, giáo hóa dân phong mỹ tục cũng là ở đây, các bậc đế vương đời xưa làm nên trị bình đời nào cũng theo thế.</p>
<p style="text-align: justify;">Thánh Tổ Cao hoàng đế đã định quy mô, nhưng chưa kịp thi hành. Làm rạng rỡ đời trước, khuyến khích đời sau, nay chính là lúc làm việc này. Bèn vào năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo thứ 3 (1442) rộng mở xuân vi1 thi Hội cho các sĩ nhân trong nước. Bấy giờ số dự thi đông đến 450 người. Qua bốn trường, lấy trúng cách được 33 người. Quan Hữu ti chuyên trách kê tên dâng lên, Thánh thượng sai chọn ngày ban cho vào sân rồng ứng đối2. Lúc ấy Đề điệu3 là Thượng thư Tả Bộc xạ Lê Văn Linh, Giám thí là Ngự sử đài Thị Ngự sử Triệu Thái, cùng các quan Tuần xước, Thu quyển, Di phong, Đằng lục, Đối độc ai nấy đều kính cẩn thi hành công việc. Ngày mồng 2 tháng 2, Thánh thượng ra ngự ở điện Hội Anh, đích thân ra đề thi văn sách. Ngày hôm sau các viên Độc quyển là Hàn lâm viện Thừa chỉ Học sĩ kiêm Trung thư Quốc sử sự Nguyễn Trãi, Trung thư sảnh Trung thư Thị lang Nguyễn Mộng Tuân, Nội mật viện Tri viện sự Trình Thuấn Du, Quốc tử giám Bác sĩ Nguyễn Tử Tấn nâng quyển tiến đọc. Hoàng thượng sáng suốt ngự lãm, xét định thứ bậc cao thấp. Ban cho Nguyễn Trực đỗ Trạng nguyên, Nguyễn Như Đổ đỗ Bảng nhãn, Lương Như Hộc đỗ Thám hoa lang; bọn Trần Văn Huy 7 người đỗ Tiến sĩ, bọn Ngô Sĩ Liên 23 người đỗ Phụ bảng 4. Đó là gọi theo danh hiệu đã có từ đời trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày mồng 3 tháng 3, xướng danh treo bảng, để tỏ cho kẻ sĩ thấy sự vẻ vang. Ân ban tước trật để nêu cao nổi bật với dân thường, ban áo mũ cân đai để đẹp cách ăn mặc, cho dự yến vườn Quỳnh 5 để tỏ ơn huệ, cấp ngựa về quê để rõ lòng đặc biệt mến yêu. Kẻ sĩ và dân chúng Trường An đâu đâu cũng tụ tập đến xem, đều ca ngợi Thánh thượng chuộng Nho xưa nay hiếm thấy.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày mồng 4, bọn Trạng nguyên Nguyễn Trực lạy chào dâng biểu tạ ơn. Ngày mồng 9, lại vào bệ kiến cáo từ, xin được vinh quy. Đó là khoa thi đầu tiên đời thánh triều được ơn vinh long trọng, đến nay kẻ sĩ vẫn còn tấm tắc ngợi ca. Từ đó về sau thánh nối thần truyền, đều tuân theo lệ cũ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thánh hoàng6 trung hưng nghiệp lớn, rộng mở nhân văn, đổi mới chế độ, lừng lẫy tiếng tăm. Đặc biệt về phép lựa chọn kẻ sĩ lại càng lưu tâm chú ý: phàm những định lệ triều trước đã thi hành thì noi theo giữ gìn, những việc triều trước chưa đủ thì mở rộng thêm. Sau khi truyền lô yết bảng, lại cho dựng đá đề danh để truyền lại lâu dài. Phép hay ý tốt khuyến khích thật rất mực chu đáo tận tình. Tốt thay, thịnh thay!</p>
<p style="text-align: justify;">Nay xét các khoa thi Tiến sĩ từ năm Đại Bảo thứ 3 đến nay đều chưa được dựng bia, bọn Thượng thư Bộ Lễ Quách Đình Bảo vâng mệnh Hoàng thượng đem họ tên thứ bậc người thi đỗ khắc lên đá tốt, đồng thời xin đem danh hiệu Trạng nguyên7, Bảng nhãn8, Thám hoa lang9 đổi làm Tiến sĩ cập đệ, người đỗ Phụ bảng đổi gọi là đồng Tiến sĩ xuất thân để cho hợp với quy chế hiện nay10. Hoàng thượng chuẩn tấu, sai từ thần là bọn Thân Nhân Trung chia nhau soạn bài ký.</p>
<p style="text-align: justify;">Thần kính vâng lời ngọc, khôn xiết vui mừng. Kính nghĩ việc dựng bia khắc đá là cốt để làm cho ý tốt cầu hiền tài và đạo trị nước của thánh tổ thần tông được lưu truyền mãi mãi. Đó chính là phép lớn để rèn dũa người đời và là điều rất may cho Nho học. Thần tuy vụng về nông cạn, đâu dám chối từ. Kính cẩn cúi rập đầu mà ghi rằng:</p>
<p style="text-align: justify;">Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết. Vì kẻ sĩ có quan hệ trọng đại với quốc gia như thế, được quý chuộng không biết dường nào, đã được đề cao bởi khoa danh, lại được ban trọng tước trật. Ơn ban đã nhiều mà vẫn coi là chưa đủ. Lại nêu tên ở Tháp Nhạn11, ban danh hiệu Long Hổ12 để ngợi khen. Báo tin mở tiệc, triều đình mừng được người tài, không việc gì không làm hết mức.</p>
<p style="text-align: justify;">Nay Thánh thượng anh minh, lại nhận thấy rằng việc lớn tốt đẹp tuy đã vẻ vang một thời, nhưng lời khen tiếng thơm chưa đủ để lưu truyền lâu dài cho hậu thế. Vì thế lại cho khắc đá đề danh dựng ở cửa nhà Thái học13 để cho kẻ sĩ chiêm ngưỡng, hâm mộ phấn chấn, rèn luyện danh tiết, hăng hái kính giúp nhà vua. Há phải chỉ là chuộng hư danh, sính hư văn mà đặt ra đâu!</p>
<p style="text-align: justify;">Ôi! kẻ sĩ ở chốn trường ốc lều tranh, danh phận thật là nhỏ mọn mà được triều đình đề cao hết mực như thế, thì người mang danh kẻ sĩ phải trọng thân danh mình mà lo báo đáp, phải nên thế nào?</p>
<p style="text-align: justify;">Hãy đem họ tên những người đỗ khoa này mà điểm lại, thì thấy nhiều người đã đem tài năng văn học, chính sự để tô điểm cho nền trị bình, mấy chục năm qua được quốc gia trọng dụng. Cũng không phải là không có kẻ vì tham lam hối lộ mà hư hỏng hoặc rơi xuống hạng gian tà, có lẽ vì lúc sống bọn họ chưa được nhìn thấy tấm bia này. Ví thử đương thời chính mắt họ trông thấy, thì lòng thiện được khuyến khích mà ý xấu được ngăn ngừa, mầm nghiệt đâu dám nảy sinh? Thế thì việc dựng bia khắc đá này có lợi ích rất nhiều: kẻ ác lấy đó làm răn, người thiện lấy đó làm gắng, biết rõ dĩ vãng, rộng nhìn tương lai, vừa là để rèn giũa danh tiết của kẻ sĩ, vừa là để củng cố mệnh mạch nước nhà. Việc lớn mà Thánh tổ Thần tông đặt ra đâu phải là vô ích. Vậy những ai xem đến tấm bia này cũng nên hiểu ý sâu xa đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Thần kính cẩn làm bài ký.</p>
<p style="text-align: justify;">Phụng trực đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Thân Nhân Trung14 vâng sắc soạn.</p>
<p style="text-align: justify;">Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Nguyễn Tủng vâng sắc viết chữ (chân).</p>
<p style="text-align: justify;">Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.</p>
<p style="text-align: justify;">Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ</em></strong>, 3 người:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN TRỰC  </strong>阮直15 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN NHƯ ĐỔ  </strong>阮如堵16 ngườihuyện Thanh Trì17 phủ Thường Tín.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>LƯƠNG NHƯ HỘC </strong>梁如鵠18 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân</em></strong>,7 người:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>TRẦN VĂN HUY </strong>陳文徽19 người huyện Bất Bạt phủ Thao Giang.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>HOÀNG SẰN PHU </strong>黃莘夫20 người huyện Vĩnh Ninh phủ Thiệu Thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN HỘC </strong>阮鵠21 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>VŨ LÃM </strong>武覽22 người huyện Kim Động phủ Khoái Châu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN HỮU PHU </strong>阮有孚23 người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>PHẠM CƯ </strong>范居24 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>TRẦN BÁ LINH </strong>陳伯齡25 người huyện Vũ Giàng26 phủ Từ Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân</em></strong>, 23 người:</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGÔ SĨ LIÊN </strong>吳士連27 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN DUY TẮC </strong>阮則28 người huyện Tiên Lữ phủ Khoái Châu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN CƯ ĐẠO </strong>阮居道29  người huyện Gia Định phủ Thuận An.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>PHAN VIÊN </strong>潘員30 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN ĐẠT </strong>阮達31 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>BÙI HỰU </strong>裴祐32 người huyện Chương Đức phủ Ứng Thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>PHẠM NHƯ TRUNG </strong>范如忠33 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>TRẦN ĐƯƠNG </strong>陳當34 người huyện Đông Yên phủ Khoái Châu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGÔ THẾ DỤ </strong>吳世裕35 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>KHÚC HỮU THÀNH </strong>曲有誠36 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>LÊ LÂM </strong>黎霖37người huyện Bất Bạt phủ Thao Giang.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN THIỆN TÍCH </strong>阮善積38 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN NGHỊ </strong>阮誼39 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>TRỊNH THIẾT TRƯỜNG</strong>鄭鐵長40 người huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>TRẦN BÀN </strong>陳磐41 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN QUỐC KIỆT </strong>阮國杰42 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN MỸ </strong>阮美43 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>TRỊNH KHẮC TUY </strong>鄭克綏44 người huyện Vĩnh Ninh phủ Thiệu Thiên.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN ĐỊCH </strong>阮逖45 người huyện Đại An phủ Kiến Hưng46</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>BÙI LÔI PHỦ </strong>裴雷甫47 người huyện Phú Xuyên phủ Thường Tín.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>LÊ CẦU </strong>黎球48 người huyện Phúc Lộc phủ Quốc Oai.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>LÊ HIỂN </strong>藜顯49 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>NGUYỄN NGUYÊN CHẨN </strong>阮原稹50 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Chú thích:</em></p>
<ol style="text-align: justify;">
<li>Chỉ thi Hội, thi Hội thường tổ chức vào mùa xuân. Vi là khu vực dành cho thí sinh làm bài.</li>
<li>Nguyên văn: Tứ đối vu đình, tức thi Đình.</li>
<li>Đề điệu: viên quan đứng đầu chịu trách nhiệm toàn bộ công việc của trường thi. Tuần xước: tuần tra canh gác trong ngoài trường thi. Thu quyển: thu các quyển thi của thí sinh. Di phong: quan rọc phách, niêm phong các quyển thi. Đằng lục: người sao chép bài thi của thí sinh (thể lệ trường thi ngày trước không chấm bài trên các văn bản chính). Đối độc: người đọc soát bản sao so với bản chính.</li>
<li>Phụ bảng: bảng lấy thêm dưới hạng Tiến sĩ, tức đồng Tiến sĩ xuất thân.</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">5.Nguyên văn<em>: </em>Quỳnh Lâm, tên vườn hoa lớn phía sau điện Kính Thiên trong hoàng cung, nơi thường tổ chức các cuộc yến tiệc lớn. (Đời Đường ở Trung Quốc các Tiến sĩ được dự yến tiệc ở Hạnh Hoa viên).</p>
<ol style="text-align: justify;" start="6">
<li>Chỉ Lê Thánh Tông (vua đương thời khi viết bài ký dựng bia). Hai chữ “trung hưng” tiếp sau chỉ cuộc binh biến tháng 7-1460 do Nguyễn Xí, Đinh Liệt cầm đầu phế truất Lê Nghi Dân, lập Lê Tư Thành (thuộc dòng đích) lên ngôi, tức vua Lê Thánh Tông.</li>
<li>Trạng nguyên: danh hiệu khoa cử gọi người đỗ đầu thi Đình có từ đời Đường. Sĩ tử về kinh đô dự khoa thi Tiến sĩ đều phải nộp tờ khai gọi là Nhân thân trạng, nhân đó gọi người đỗ đầu bảng (thuộc hàng Nhất giáp) là Trạng nguyên. Đời Tống có lúc gọi cả 3 người thuộc hàng nhất giáp là Trạng nguyên, từ đời Nguyên về sau chỉ gọi người thứ nhất là Trạng nguyên.</li>
<li>Bảng nhãn: người đỗ thứ hai thuộc hàng Nhất giáp.</li>
<li>Thám hoa lang: danh hiệu khoa cử có từ đời Đường, lúc đầu để chỉ 2 người trẻ tuổi đỗ hàng Nhất giáp, gọi là Thám hoa sứ, đời Tống gọi là Thám hoa lang. Từ đời Nam Tống về sau gọi gọn là Thám hoa, chỉ người đỗ thứ ba trong hàng Nhất giáp.</li>
<li>Nước ta, các khoa thi đời Lý gọi là khoa thi Minh kinh bác học, đời Trần-Hồ gọi là khoa thi Thái học sinh. Lúc đầu chưa đặt các danh hiệu, chỉ chia người thi đỗ làm 3 hạng (Tam giáp). Từ khoa Đinh Mùi Thiên Ứng Chính Bình 16 thứ (1247) đời Trần Thái Tông mới đặt dạnh hiệu cho 3 người đỗ cao nhất (thuộc hàng Nhất giáp) là Trạng nguyên, Bảng nhãn, Thám hoa lang (sau gọi gọn là Thám hoa). Đến năm khắc bia này (1484) Bộ Lễ xin chính thức quy định các danh hiệu như dẫn trên.</li>
<li>Nhạn tháp: tên tháp chùa Từ Ân ở kinh đô Trường An (Trung Quốc). Các khoa thi Tiến sĩ đời Đường sau khi truyền loa gọi tên người thi đỗ thì khắc tên ở Nhạn tháp chùa Từ Ân.</li>
<li>Long hổ: Tức Long hổ bảng, người đời Đường thường gọi bảng báo tên người đậu Tiến sĩ là &#8220;Long hổ bảng&#8221;.</li>
<li>Nguyên văn: hiền quan, nghĩa là cửa của người hiền, chỉ nhà Thái học. Đổng Trọng Thư đời Hán viết: “Dưỡng sĩ chi đại mạc đại hồ Thái học. Thái học giả, hiền sĩ chi sở quan dã” (Sự lớn lao của việc nuôi dưỡng kẻ sĩ không gì lớn bằng nhà Thái học. Nhà Thái học là cửa cổng mà hiền sĩ phải đi qua).</li>
<li>Thân Nhân Trung (1419-1499) tự Hậu Phủ , người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Ninh Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang). Ông thi đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân năm Kỷ Sửu, niên hiệu Quang Thuận thứ 10 (1469) đời vua Lê Thánh Tông. Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Lại, Chưởng Hàn lâm viện sự kiêm Đông các Đại học sĩ, Nhập nội Phụ chính, Tế tửu Quốc tử giám; là thành viên của Hội Tao Đàn và được vua Lê Thánh Tông phong làm Tao Đàn Phó Nguyên soái.</li>
<li>Nguyễn Trực (1417-1474) hiệu Hu Liêu và tự là Công Dĩnh , người xã Bối Khê huyện Thanh Oai tỉnh Hà Đông (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông là người yêu văn chương và giữ các chức quan như: Thự trung thư lệnh, Tri tam quán sự, đặc thụ Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Tế tửu Quốc tử giám, từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Nguyễn Như Đổ (1424-1525) hiệu Khiêm Trai và tự là Mạnh An , người xã Đại Lan huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội); sau trú quán tại làng Tử Dương huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại kiêm Tế tửu Quốc tử giám. Ông được cử 3 lần đi sứ (năm1443, năm 1450 và năm 1459) sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Huyện Thanh Trì, tên đương thời (đời Lê sơ) là huyện Thanh Đàm thuộc phủ Thường Tín. Đầu đời Lê Trung hưng, kiêng chữ Đàm (tên huý Thế Tông Lê Duy Đàm (1573-1600), đổi gọi là Thanh Trì ; sau lại kiêng chữ Thanh (trong) là tên tước của Thanh vương Trịnh Tráng (1623-1657), đổi viết Thanh Trì .</li>
<li>Lương Như Hộc (?-?) tự là Tường Phủ , người xã Hồng Liễu huyện Trường Tân (nay là thôn Thanh Liễu xã Tân Hưng huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan đến chức Đô Ngự sử, hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh, được về trí sĩ. Ông có công dạy nghề khắc ván in cho dân làng Hồng Liễu. Sau khi ông mất, dân làng tôn thờ làm thành hoàng.</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">19.Trần Văn Huy (?-?) người xã Thái Bạt huyện Bất Bạt (nay thuộc xã Tòng Bạt huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông là thân phụ của Trần Văn Cẩn. Có người nói ông là người xã Quảng Bị (cùng huyện). Làm quan Thượng thư Bộ Lại.</p>
<ol style="text-align: justify;" start="20">
<li>Hoàng Sằn Phu (?-?) người xã Tiên Kiều huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hoàng môn Thị lang kiêm Quốc sử Tu soạn.</li>
<li>Nguyễn Hộc (1412-?) người xã Cổ Kinh huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Thạch Kênh huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh kiêm Hàn lâm viện Học sĩ, tước hầu.</li>
<li>Vũ Lãm (?-?) nguyên quán xã Tiên Kiều huyện Kim Động (nay thuộc xã Bảo Khê huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Trú quán xã Kim Lan huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Kim Lan huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Ngự tiền học sinh, Hàn lâm viện Trực học sĩ.</li>
<li>Nguyễn Hữu Phu (1413-?) tự Hiển Danh , người xã Sơn Đồng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Sơn Đồng huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như An phủ sứ Thái Nguyên, An phủ sứ Khoái Lộ và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Phạm Cư (?-?)người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thái bộc tự khanh, quyền Tham chính Lạng Sơn và được cử đi sứ (năm 1464) sang nhà Minh (Trung Quốc). Có sách ghi ông là Nguyễn Cư.</li>
<li>Trần Bá Linh (?-?) người xã Thị Cầu huyện Vũ Ninh (nay thuộc phường Thị Cầu thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thẩm hình viện, Tri Đông đạo quân dân bạ tịch và được cử đi sứ (năm 1459) sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Huyện Vũ Giàng, đời Lê sơ là huyện Vũ Ninh, đầu đời Lê Trung hưng kiêng huý Trang Tông Lê Duy Ninh nên mới đổi là Vũ Giang (sau kiêng tên chúa Trịnh Giang đọc chệch là Vũ Giàng).</li>
<li>Ngô Sĩ Liên (?-?) người xã Chúc Sơn huyện Chương Đức (nay thuộc xã Ngọc Sơn huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Đô Ngự sử, Hữu Thị lang Bộ Lễ, Quốc tử giám Tư nghiệp, kiêm Sử quán Tu soạn. Ông thọ hơn 90 tuổi.</li>
<li>Nguyễn Duy Tắc (?-?) người xã Thiên Đông huyện Tiên Lữ (nay thuộc xã Dị Chế huyện Tiên Lữ tỉnh Hưng Yên). Ông từng làm quan Hiến sát sứ.</li>
<li>Nguyễn Cư Đạo (?-?) người xã Đông Côi huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Ngự sử đài Đô Ngự sử, Thượng thư Bộ Hộ, Tri Kinh diên sự và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Phan Viên (1421-?) người xã Bàn Thạch huyện Thạch Hà (nay thuộc xã Sơn Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Quốc tử giám Tế tửu.</li>
<li>Nguyễn Đạt (?-?) người xã Diên Trường huyện Thanh Đàm (nay thuộc huyện Thanh Trì ngoại thành Hà Nội). Ông làm quan Thượng thư kiêm Hàn lâm viện Thừa chỉ.</li>
<li>Bùi Hựu (?-?) người xã Lam Điền huyện Chương Đức (nay thuộc xã Lam Điền huyện Chương Mỹ tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thị lang và được cử đi sứ (năm 1462) sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Phạm Như Trung (1413-?) người xã Nhân Lý huyện Thanh Lâm (nay thuộc thị trấn Nam Sách huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đông các Hiệu thư.</li>
<li>Trần Đương (?-?) người xã Triền Thủy huyện Đông Yên (nay thuộc xã Đông Kết huyện Châu Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử.</li>
<li>Ngô Thế Dụ (?-?) người xã Khê Nữ huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Nguyên Khê huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang.</li>
<li>Khúc Hữu Thành (?-?) người xã Thiện Tài huyện Thiện Tài (nay thuộc huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Binh.</li>
<li>Lê Lâm (1411-?) người xã Hạ Bì huyện Bất Bạt (nay thuộc tỉnh Hà Tây). Ông giữ các chức quan, như Ngự tiền học sinh, Chủ bạ, Ngự sử đài, Giám sát Ngự sử.</li>
<li>Nguyễn Thiện Tích (?-?) người xã Tiền Liệt huyện Bình Hà (nay thuộc xã Tân Phong huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư kiêm Đô Ngự sử.</li>
<li>Nguyễn Nghị (1412-?) người xã Trác Châu huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Châu huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.</li>
<li>Trịnh Thiết Trường (?-?) người xã Đông Lý huyện Yên Định (nay thuộc xã Hạnh Phúc huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Đi thi khoa này, ông quyết đoạt danh hiệu Cập đệ (tức hàng Tam khôi là Trạng nguyên, Bảng nhãn hay Thám hoa), nhưng chỉ đỗ hạng Tam giáp, ông từ chối không nhận. Khoa sau Thái Hòa năm thứ 6 (1448), ông lại đi thi, quả nhiên đỗ Bảng nhãn. Ông giữ các chức quan, như Hàn lâm viện Thị giảng, Hữu Thị lang và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Trần Bàn (?-?) người xã Từ Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Bồng Lai huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông giữ các chức quan, như Đông các Đại học sĩ Ngự sử đại phu, Tả Thị lang Bộ Lại và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</li>
<li>Nguyễn Quốc Kiệt (?-?) người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư kiêm Thẩm hình viện.</li>
<li>Nguyễn Mỹ (?-?) chưa rõ xã, huyện Vĩnh Lại xưa bao gồm huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng và một phần huyện Ninh Giang tỉnh Hải Dương ngày nay. Ông từng giữ chức Tả Thị lang Bộ Lễ.</li>
<li>Trịnh Khắc Tuy (1413-?) người xã Sóc Sơn huyện Vĩnh Ninh (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.</li>
<li>Nguyễn Địch (?-?) người xã Vụ Lạc huyện Đại An (nay thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Tả Thị lang.</li>
<li>Phủ Kiến Hưng, đời Lý là huyện Ứng Phong, nhà Trần gọi là phủ Ứng Phong, sau kiêng đồng âm chữ Phong (tên huý Khâm Từ Hoàng thái hậu, mẹ Trần Anh Tông), đổi gọi là phủ Kiến Hưng. Thời thuộc Minh, đổi phủ Kiến Hưng thành phủ Kiến Bình. Nhà Lê đổi là phủ Nghĩa Hưng thuộc thừa tuyên Sơn Nam (sau là xứ), gồm 4 huyện: Thiên Bản, Ý Yên, Vọng Doanh, Đại An. Nay là đất các huyện Vụ Bản và Ý Yên tỉnh Nam Định.</li>
<li>Bùi Lôi Phủ (1412-?) người xã Đào Xá huyện Phù Vân (nay thuộc huyện Phú Xuyên tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư Bộ Lại.</li>
<li>Lê Cầu (1421-?) người xã Nam Nguyễn huyện Phúc Lộc (nay thuộc xã Cam Thượng huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Bí thư.</li>
<li>Lê Hiển (1425-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đông Lạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ônglàm quan Trực học sĩ và được cử đi sứ (năm 1463) sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông còn có tên là Lê Văn Hiển.</li>
<li>Nguyễn Nguyên Chẩn (1425-?) người xã Lạc Thực huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Ông thi đỗ, nhưng không nhận, vì không đỗ Cập đệ (tức hàng Tam khôi). Đến khoa Mậu Thìn Thái Hòa thứ 6 (1448), ông đi thi lại, vẫn chỉ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân và làm quan Khu mật Trực học sĩ.</li>
</ol>
<p style="text-align: justify;">
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/82-van-bia-tai-van-mieu-ha-noi-tu-khoa-thi-1442-den-khoa-thi-1779/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>BẢN GIAO ƯỚC NHƯỢNG ĐẤT, MỞ CHỢ CỦA 2 XÃ CÔI TRÌ VÀ YÊN MÔ NĂM 1755</title>
		<link>https://honinh.com/ban-giao-uoc-nhuong-dat-mo-cho-cua-2-xa-coi-tri-va-yen-mo-nam-1755/</link>
					<comments>https://honinh.com/ban-giao-uoc-nhuong-dat-mo-cho-cua-2-xa-coi-tri-va-yen-mo-nam-1755/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 13 Nov 2018 15:33:48 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2047</guid>

					<description><![CDATA[Làng Yên Mô (nay thuộc xã Yên Mạc, Yên Mô &#8211; Ninh Bình) được thành lập vào khoảng giữa thế kỷ XV. Bên cạnh Yên Mô là làng Côi Trì&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Làng Yên Mô (nay thuộc xã Yên Mạc, Yên Mô &#8211; <a style="color: #000000;" title="Search Link by Surf Canyon" href="http://www.surfcanyon.com/search?f=sl&amp;q=Ninh&amp;p=wtiffrwa" target="scSearchLink" rel="noopener">Ninh</a> Bình) được thành lập vào khoảng giữa thế kỷ XV. Bên cạnh Yên Mô là làng Côi Trì (nay thuộc xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh <a style="color: #000000;" title="Search Link by Surf Canyon" href="http://www.surfcanyon.com/search?f=sl&amp;q=Ninh&amp;p=wtiffrwa" target="scSearchLink" rel="noopener">Ninh</a> Bình) là một làng được thành lập sau công cuộc khai hoang theo “phép chiếm xạ” thời Lê sơ, gắn liền với sự ra đời của con đê Hồng Đức (1472).</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Từ sau khi được thành lập Côi Trì và Yên Mô có mối quan hệ mật thiết với nhau. Yên Mô đã từng là đất đững chân của các cư dân đầu tiên đến khai hoang lập làng Côi Trì. Yên Mô và Côi Trì cùng đắp, bảo vệ con đê Hồng Đức, cùng thờ một vị thành hoàng (thần Câu Mang),…</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Đến thế kỷ XVII, XVIII, Côi Trì và Yên Mô đã là những làng (xã) thuộc loại lớn, có nền nông nghiệp, thủ công nghiệp phát triển. Hơn nữa hai làng này có những điều kiện thuận lợi cho phát triển giao thương, buôn bán: cạnh sông Bút, sông Càn, gần cửa biển Thần Phù,…Vì vậy nhu cầu mở chợ để phục vụ cho giao lưu, buôn bán đã xuất hiện. Những tranh chấp về địa điểm họp chợ, ngày họp chợ đã diễn ra. Vì vậy hai làng Yên Mô và Côi Trì đã cùng thỏa thuận tương nhượng đất, thành lập thêm chợ Bút(cho xã Côi Trì), bên cạnh chợ Mo (của xã Yên Mô), quy định ngày họp chợ của chợ Mo, chợ Bút.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Bản giao ước nhượng đất, mở chợ, quy định ngày họp chợ của hai làng Yên Mô và Côi Trì là một minh chứng cho sự phát triển của kinh tế (nhất là thương nghiệp) của Côi Trì, Yên Mô nói riêng của Đại Việt nói chung trong các thế kỷ XVII, XVIII nói chung. Vì vậy chúng tôi xin giới thiệu văn bản này:</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Bản giao ước này được chép trong cuốn “Ninh Thị khảo đính” của Ninh Tốn (Cuốn sách này chưa thấy nhắc đến trong các nghiên cứu trước đây về Ninh Tốn. Hiện nay cuốn sách được lưu giữ ở nhà cụ Ninh Văn Yết, xóm Bút Thị , xã Yên Mỹ, . Xin giới thiệu trong một dịp khác). “Ninh Thị khảo đính” được viết bằng chữ Hán, dày trên 100 tờ, khổ 18 x 27 cm. Mỗi tờ được viết trên một mặt giấy. Mỗi mặt giấy có 8 hàng viết tay. Trừ một số tờ đầu bị mất góc và một số tờ cuối bị mất hiện nay sách còn khá đầy đủ, giấy tốt, chữ viết rõ ràng.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000000;"><em>Riêng bản giao thư này được chép trong 8 tờ, chữ viết còn rõ ràng. Căn cứ vào nội dung cuối thì thấy bản giao ước này được lập vào ngày 12 tháng 12 năm Kỷ Hợi, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 16 (tức năm 1755 thời Lê Hiển Tông). Giao ước do Hy Tăng (được bầu làm Hậu thần)soạn. Hy tăng tiên sinh, họ Ninh, tên chữ là Ngạn, hiệu Dã Hiên, người Côi Trì, là thân phụ của Tiến sĩ, Binh bộ thượng thư Ninh Tốn. Ninh Hy Tăng (1715-1781) là người tinh thông Nho học, từng được thăng chức tứ phẩm và được ấm phong Hàn lâm viện thị độc. Ninh Hy Tăng để lại sách “Thiển thuyết” gồm hai thiên Thượng và Hạ(được Ninh Tốn cho khắc vào bia đá, nay còn ở nhà thờ họ Ninh ở Côi Trì) và tập thơ “Phong vịnh tập”. Năm 1755, Hy Tăng là người soạn nên bản giao ước nay sau đó ông còn bỏ tiền ra mở chợ Bút cho làng Côi Trì. Sau đây xin giới thiệu về bản giao ước này</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> Văn bản chữ Hán</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">景 興 六 年 乙 亥 本 社 与  安 謨 社 申 定 地 界 。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">祔  抄 安 謨 与 本 社 相 讓 田 界 券 文。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">本 社 後 神 官 希 增先 生 撰。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">長 安 府 安 謨 縣 安 謨 社 上 村 范  守 呉 顯 , 潘谨 , 阮 芳, 范 宿, 阮 貺 , 潘勤 , 黃 馨, 黃 眷 , 阮 任 , 阮 儐. 范 官, 阮 仕, 黃 濡, 潘 訢 , 范 俊, 阮 暹 , 潘 翰 , 黃 櫚 ,  范 元, 阮 俵,  黎 蓮, 武 成, 范 植, 范 校, 武 讓, 陳 珪, 阮 鑴 , 范 容 , 范 勵 , 范 和 , 范 採 , 范 翊 , 武 俊 , 范 敦 , 范 宰 , 阮 詠 , 范 朝 , 黎 拜 ,范 式 , 范 腾 仝 村 上 下 等 為与 瑰 池 社 相 讓 界 揭 結 立 交 書 还 敘 其 事 文。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">嘗 聞  君 子 无 所 爭 永 合 <strong>於</strong> <strong> </strong>義<strong> </strong>耳 鄰 交 与 有 道 义 也 无 讼 乎 故 古 人  所 貴 者 和 与 至 里 每 惟  其 定 眷 言處 林 与 瑰 池 社 同 居 一 须 地 世 <strong>於 </strong>連 累 代 以 来 祇 以 界 揭 为 言 癙 牙 角 拄 構 此 屡 与 訟 事。  </span><br />
<span style="color: #800000;">端 不 能 止 毒 手 拳 拄 加 此 数 矣 而 争 争 以 未 肯 灰 致 二 社 云 人 魯 術 北 鄰 <strong> </strong>牙 <strong>於</strong> <strong> </strong>啟 釁 越 秦 </span><br />
<span style="color: #800000;">肥 廋 殊 太 无 情 争 言 思 之 良 可醜 也 私 幸 遇。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">煕 朝  聖 聰 在 鄊 国 俗 国  仁 (hai chữ bị mờ) 天 鄉 <strong> </strong>戋  破 <strong> </strong> 其 惇  时 维  臈 月 序 屬 三 冬 二 社 员 目 各 色 等 <strong> </strong> <strong>於</strong> <strong> </strong>章 向  语 曰 噫  吾 所 争 图  司  耻 也 自 行 作 後 古 其 監 于 与 其 交 (thí  ) 以 <strong>於</strong> <strong> </strong>钱 曷 若 囬 以 而  尚。 <strong> </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">讓 乃  於 去 旧 汚 成 克 固 有 東 边 苙 一 石 揭  直 至 中 段 曲 尺 与 向  西 又 三 石 揭 以 此 为 界 靣 界 之 。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">南 此 闊 則 自 東 迄 西 以 长 三 十 伍 一 度 爲  相 讓 之 所 瑰 池 之 人 有 處 此 之 田 則 出 稅 于 瑰 池 社 安 谟 有 此 處 之 田 則 出 稅 于 安 谟 社 使 自石<strong> </strong>揭 以 <strong>於</strong> <strong> </strong>于 瑰 池 社 却 除 讓 處 以 南 邊 于 安 谟 各 立 交 書 並 執 一道 世 世 遵 守(nhi ) 昔 之 相 争 今 还 為 相 讓。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">言 歸 于 好 矣 迹 夫 还 五 百 年 不 辨 之 界 揭 一旦 而 始 分 襀 <strong> </strong>十 餘 世不 解  之  怨 譽 一朝 而 尽 釋 是 豈 偶 然 之 故 哉 此 盖 二 社 同 恭奉。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">本 土 皇 帝 上 等 神 詞 默 相 陰 扶 圴 淑 人 心 使自 (1 chữ bị mờ. Có thể là chữ “quy”) 厚 之 所 致 也 嗣 後 交 書 既 事 二 社 之 人 或 以 私 意 小 智  妄  起 争 端 不 据 文 書 不 遵 界 暍 幽 有。</span><br />
<span style="color: #800000;"> 神 鉴 顯 <strong> 付 人 非 無 以 自 立 天 地 之 间</strong> 矣 兹 交 書 其 图 并 雜 券 付 列 于 左。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;"><strong>一</strong>: 二 社 有侵耕田其 花 穀 止 许 廵 番 每 高 一 把 脫 有 不 谨 依 律 荒  償  其 相 讓 度 许 瑰 池 人 接 近 廵 宿 执 水 花 穀 並 荒 償 办 如 之。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;"><strong>一</strong>: 二 社 謨 巿 筆 巿 其 謨 巿 以 初 二 初 七 為 番 如 遇 番 日 則 筆 巿 不 得 私 會 並 就 謨 巿 會 此 筆 巿 以 初 五 初 十 為 番 如 遇 小 月 例 在 二 十 九 日 其 筆 番 謨 巿 不 得 私 會 並 就 筆 巿 會 叶。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;"><strong>一</strong>: 瑰 池 社 謨 巿 會 在 官  堤 其 中 路 以 東 乃 是  本 社 地 分 兹 本 社 記 许 瑰 池 社 會 巿 其 巿 内 各 事 皆 在 瑰 池 社 所 受 本 社 並 無 干 及 以 上 各 例 矣 属 内。衙 门 倌 用 為 印 凴。</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;">景 興 十六 年 二 月 十二  日 立 交 書。社 長 黄 德 润 记。縣 承 范 有 守 记。縣 承 吴 德 顯 记。百 户 范 廷 谨 记。百 户 范 世 芳 记。百 户 阮 貺 记</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Phiên âm:</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Cảnh Hưng lục niên Ất Hợi bổn xã dữ Yên Mô xã thân định địa giới</p>
<p style="text-align: justify;">Phụ sao Yên Mô dữ bản xã tương nhượng điền giới khoán văn</p>
<p style="text-align: justify;">Bản xã hậu thần quan Hy Tăng tiên sinh soạn</p>
<p style="text-align: justify;">Trường Yên  phủ, Yên Mô huyện, Yên Mô xã Thượng  thôn Phạm Thủ,  Ngô Hiển, Phan Cẩn, Nguyễn Phương, Phạm Túc, Nguyễn Huống, Phan Cần, Hoàng Hinh, Hoàng Quyến, Nguyễn Nhâm, Nguyễn Tấn, Phạm Quan, Nguyễn Sĩ, Hoàng Nhu, Phan Hân, Phạm Tuấn, Nguyễn Xiêm, Phan Hàn, Hoàng Lư, Phạm Nguyên, Nguyễn Biểu, Lê Liên, Vũ Thành, Phạm Thực, Phạm Giáo, Vũ Nhượng, Trần Khuê, Nguyễn Huề, Phạm Dung, Phạm Lệ, Phạm Hòa, Phạm Thải, Phạm Dực, Vũ Tuấn, Phạm Đôn, Phạm Tể, Nguyễn Vịnh, Phạm Triêu, Lê Bái, Phạm Thức, Phạm Đằng  đồng thôn thượng hạ đẳng vi dữ Côi Trì xã tương nhượng giới yết kết lập giao thư hoàn tự kì sự văn</p>
<p style="text-align: justify;">Thường văn quân tử vô sở tranh vĩnh hợp vu nghĩa nhĩ lân giao dữ hữu đạo nghĩa dã vô tụng hồ cố cổ nhân sở quý giả hòa dữ chí lí mỗi duy kì định quyến ngôn xử lâm dữ Côi T rì xã đồng cư nhất tu địa thế vu liên luy đại dĩ lai kì dĩ giới yết vi ngôn ? nha giác trụ cấu thử lũ dữ tụng sự</p>
<p style="text-align: justify;">Đoan bất năng chỉ độc thủ quyền trụ gia thử sổ hĩ nhi tranh tranh dĩ vị khẳng hôi trí nhị xã vân nhân lỗ thuật bắc lân nha vu khải hấn việt tần<br />
Phì sưu thù thái vô tình tranh ngôn tư chi lương khả xú dã tư hạnh ngộ</p>
<p style="text-align: justify;">Hi triêu thánh thông tại hương quốc tục quốc nhân (không rõ 2 chữ) thiên hương tiên phá kì đôn thì duy lạp nguyệt tự chúc tam đông nhị xã viên mục các sắc đẳng vu chương hướng ngữ viết y ngô sở tranh đồ ti sỉ dã tự hành tác hậu cổ kì giam vu dữ kì giao (không rõ 1 chữ) dĩ vu tiễn hạt nhược hồi dĩ nhi thượng</p>
<p style="text-align: justify;">Nhượng nãi vu khứ cựu ô thành khắc cố hữu đông biên lập nhất thạch yết trực chí trung đoạn khúc xích dữ hướng tây hựu tam thạch yết dĩ thử vi giới diện giới chi</p>
<p style="text-align: justify;">Nam thử khoát tắc tự đông hất tây dĩ trường tam thập ngũ nhất độ vi tương nhượng chi sở Côi Trì chi nhân hữu xử thử chi điền tắc xuất thuế vu côi trì xã Yên Mô hữu thử xử chi điền tắc xuất thuế vu Yên Mô xã sử tự thạch yết dĩ vu vu Côi Trì xã tức trừ nhượng xử dĩ nam biên vu Yên Mô các lập giao thư tịnh chấp nhất đạo thế thế tuân thủ  nhi  tích chi tương tranh kim hoàn vi tương nhượng</p>
<p style="text-align: justify;">Ngôn quy vu hảo hĩ tích phu hoàn ngũ bách niên bất biện chi giới yết nhất đán nhi thủy phân tích thập dư thế bất giải chi oán dự nhất triêu nhi tẫn thích thị khởi ngẫu nhiên chi cố tai thử cái nhị xã đồng cung phụng</p>
<p style="text-align: justify;">Bản thổ hoàng đế thượng đẳng thần từ mặc tương âm phù (1 chữ bị mờ)  thục nhân tâm sử tự (1 chữ bị mờ. Có thể là chữ “quy”) hậu chi sở trí dã tự hậu giao thư kí sự nhị xã chi nhân hoặc dĩ tư ý tiểu trí vọng khởi tranh đoan bất cư văn thư bất tuân giới yết u hữu</p>
<p style="text-align: justify;">Thần giám hiển phó nhân phi vô dĩ tự lập thiên địa chi gian hĩ tư giao thư kì đồ tịnh tạp khoán phó liệt vu tả</p>
<p style="text-align: justify;">Nhất : nhị xã hữu xâm canh điền kì hoa cốc chỉ hứa (1 chữ bị mờ) phiên mỗi cao nhất bả thoát hữu bất cẩn y luật hoang thường kì tương nhượng độ hứa côi trì nhân tiếp cận (1 chữ bị mờ) túc chấp thủy hoa cốc tịnh hoang thường bạn như chi</p>
<p style="text-align: justify;">Nhất : nhị xã mô phất bút phất kì mô phất dĩ sơ nhị sơ thất vi phiên như ngộ phiên nhật tắc bút phất bất đắc tư hội tịnh tựu mô phất hội thử bút phất dĩ sơ ngũ sơ thập vi phiên như ngộ tiểu nguyệt lệ tại nhị thập cửu nhật kì bút phiên mô phất bất đắc tư hội tịnh tựu bút phất hội diệp</p>
<p style="text-align: justify;">Nhất : Côi Trì xã mô phất hội tại quan đê kì trung lộ dĩ đông nãi thị bổn xã địa phân tư bổn xã kí hứa Côi Trì xã hội phất kì phất nội các sự giai tại côi trì xã sở thụ bổn xã tịnh vô kiền cập dĩ thượng các lệ hĩ chúc nội  nha môn quan dụng vi ấn bằng</p>
<p style="text-align: justify;">Cảnh Hưng thập lục niên nhị nguyệt thập nhị nhật lập giao thư 。 xã trường Hoàng Đức Nhuận kí 。 huyền thừa Phạm Hữu Thủ kí 。 huyền thừa Ngô Đức Hiển kí 。 bách hộ Phạm Đình Cẩn kí 。 bách hộ Phạm Thế  Phương kí 。 bách hộ Nguyễn Huống kí</p>
<p>&nbsp;</p>
<p><span style="color: #800000;"><strong>Tác giả: Đinh Văn Viễn &#8211; Đại học Hoa Lư</strong></span></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ban-giao-uoc-nhuong-dat-mo-cho-cua-2-xa-coi-tri-va-yen-mo-nam-1755/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Huyền Quang, Điểm Bích và bài thơ &#8220;Vân Bích Nương&#8221; của Ninh Tốn</title>
		<link>https://honinh.com/huyen-quang-diem-bich-va-bai-tho-van-bich-nuong-cua-ninh-ton/</link>
					<comments>https://honinh.com/huyen-quang-diem-bich-va-bai-tho-van-bich-nuong-cua-ninh-ton/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 13 Nov 2018 15:14:44 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2042</guid>

					<description><![CDATA[Vào thế kỷ XII, ở Việt Nam có 3 Thiền phái: Thảo Đường, Vô Ngôn Thông, Tì Ni Đa Lưu Chi. Sau đó, 3 phái này hợp nhất thành Thiền&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vào thế kỷ XII, ở Việt Nam có 3 Thiền phái: Thảo Đường, Vô Ngôn Thông, Tì Ni Đa Lưu Chi. Sau đó, 3 phái này hợp nhất thành Thiền phái Yên Tử. Vua Trần Nhân Tông là người lập ra Thiền phái Trúc Lâm tiếp nối của Thiền phái Yên Tử. Chính vì vậy Thiền phái Trúc Lâm còn được gọi là Trúc Lâm Yên Tử.</p>
<p style="text-align: justify;">3 vị Tổ đầu của Thiền phái Trúc Lâm (Trúc Lâm Tam Tổ) là Phật hoàng Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang.</p>
<p style="text-align: justify;">Huyền Quang tên thật là Lý Đạo Tái (1254 &#8211; 1334) là người đỗ Trạng nguyên khoa thi 1272. Ông là một Đại Thiền sư  cùng với Phật hoàng Trần Nhân Tông và Pháp Loa được xem là ngang hàng với 6 vị Tổ của Thiền Tông Trung Hoa và 28 vị Tổ của Thiền Ấn Độ. Ông cũng là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ lưu truyền đến ngày nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Có một truyền thuyết về Huyền Quang (với nhiều dị bản) liên quan đến 1 giai nhân là nàng Điểm Bích:</p>
<p style="text-align: justify;">Hồi bấy giờ vua Trần Anh Tông mới lên ngai vàng.Thấy vị Tổ Trúc Lâm là một người cón ít tuổi,Vua không tin là có thể chịu đựng nổi sự diệt dục khổ hạnh. “<em>Cứ đưa đến một cô gái đẹp, nhất định thế nào thầy cũng sa ngã</em>”. Nghĩ vậy, Vua có ý định thử xem đạo đức của vị sư trẻ tuổi này như thế nào. Vua cho triệu Huyền Quang về kinh làm lễ cầu siêu và khi sư trở về chùa, Vua sai ban cho 10 lạng vàng để đền công khó nhọc.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế rồi, Vua cho một cung nữ nhan sắc xinh đẹp tên là Điểm Bích, tìm cách đến chùa, nơi Huyền Quang trụ trì, bảo phải quyến rũ cho bằng được. Vua còn dặn Điểm Bích phải làm sao lấy ở sư thầy ít nhất là một lạng vàng đưa về làm tang chứng.</p>
<p style="text-align: justify;">Một đêm Huyền Quang đang nghỉ trong thiền trai thì chú tiểu đưa vào một cô gái (là nàng Điểm Bích đóng giả) và nói rằng cô gái này vừa bị cướp đuổi. Nàng khóc sướt mướt và xin nhà chùa cho ở trọ lại qua đêm và Huyền Quang không thể từ chối được. Theo lệnh Huyền Quang, chú tiểu sắp xếp cho nàng một chỗ nghỉ ở phía ngoài thiền trai.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự  việc vừa xảy ra làm cho Huyền Quang thấy trong lòng không được yên tĩnh. Nhà sư để cho chú tiểu đi nghỉ, rồi giở quyển kinh ra tụng niệm mãi tới khuya. Sắp sửa đặt lưng xuống giường, sư lại nghe tiếng khóc của người đàn bà và khi hỏi chuyện thấy người này muốn xin được vào nằm phía trong vì ở ngoài không ngăn được sự sợ hãi. Bất đắc dĩ, Huyền Quang cho người đàn bà vào ở chỗ tiếp khách, còn mình thì lui vào trai phòng khóa cửa lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng vừa chợp mắt đi được một lúc, đã lại nghe tiếng khóc mỗi lúc càng nỉ non ở phía bên ngoài. Nhà sư ngồi dậy, cầm lấy tràng hạt và quyển kinh. Nhưng khi bước ra khỏi trai phòng, qua ánh đèn dầu le lói thấy người đàn bà nằm lõa lồ trên bộ ván. Nhà sư bước vội trở vào và quyết định ngồi trên giường tụng niệm cho tới sáng để tránh sự cám dỗ. Không ngờ giữa lúc những tiếng tụng niệm vừa cất lên thì Điểm Bích ở đâu đã sán lại ngồi bên cạnh, nói những câu cảm ơn nhưng lại xen vào nhiều lời khêu gợi.</p>
<p style="text-align: justify;">Biết người đàn bà này đến đây có mục đích không lương thiện, Huyền Quang liền nghiêm nét mặt lại:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211;   A-di-đà-Phật, Nàng là ai? Tại sao tìm đường vào đây để quấy rối những người tu hành? Nếu không mau mau cải tà quy chính, ta sẽ hô hoán lên cho mọi người đến cầm lá dắt ra khỏi Thiền viện.</p>
<p style="text-align: justify;">Thấy Huyền Quang không phải là hạng người dễ quyến rũ, Điểm Bích đành phải thay đổi thái độ. Nàng chuyển sang bộ mặt rầu rĩ và bịa ra câu chuyện để gợi lòng trắc ẩn:</p>
<p style="text-align: justify;">-Thiếp vốn là con nhà thế phiệt. Bố thiếp làm quan một huyện ở vùng biển. Nhân đi thu thuế nhưng không ngờ bị bọn cướp đường lấy mất cả. Quan trên thương tình cho khất đến cuối năm. Hiện nay bố thiếp thu góp tư trang mới được chừng một nữa. Bởi vậy thiếp phải đi khắp đó đây xin các nhà từ thiện, kẻ ít người nhiều để bù vào số thiếu. Dám xin Hòa thượng mở lượng hải hà cứu vớt lấy bố thiếp và cả nhà thiếp.</p>
<p style="text-align: justify;">Huyền Quang cảm động, nói:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Nàng đừng có lo lắng gì cả. Ngày mai ta sẽ tiến triều, tâu với Vua xin tha tội cho cha nàng.</p>
<p style="text-align: justify;">Điểm Bích nói:</p>
<p style="text-align: justify;">-Bạch Hòa thượng, việc của bố thiếp còn may là chưa đến tai Thánh thượng. Hòa thượng về tâu giúp cho thật là công đức vô biên, nhưng thiếp không muốn vì việc nhà thiếp làm phiền Hòa thượng phải xuống núi nhọc sức.</p>
<p style="text-align: justify;">Huyền Quang vội lấy 10 nén vàng vua ban đem đưa cho người đàn bà mà rằng:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Ta biếu nàng tất cả, nàng đưa về mà chuộc tội cho cha!</p>
<p style="text-align: justify;">Trở về cung, Điểm Bích liền nộp mười nén vàng và tâu dối với vua rằng mình đã cám dỗ được Huyền Quang. Để vua tin, nàng còn đọc lên một bài thơ yêu đương nói là của Huyền Quang đã ngâm tặng mình trước khi phá giới:</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Vằng vặc trăng mai ánh nước,</em><br />
<em>Hiu hiu gió trúc ngâm sinh.</em><br />
<em>Người vừa tươi tốt, cảnh vừa lạ,</em><br />
<em>Mâu Thích Ca nào chẳng hữu tình.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Nghe xong câu chuyện, Vua hạ lệnh cho gọi Huyền Quang về triều để làm một lễ chay trọng thể vào dịp rằm tháng bảy. Vua còn bắt quân hầu dựng một đàn tràng nguy nga, các rạp đều trần thiết toàn bằng lụa hoàng quyến.Trái hẳn với tục lệ nhà chùa, hôm bước vào chính lễ, Vua ra lệnh cho giết bò và lợn, dọn toàn cỗ mặn.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi sắp bước vào rạp, Huyền Quang biết nhà vua cố ý làm nhục mình, lụa “<em>hoàng quyến</em>”  nói lái lại rõ ràng ám chỉ hai tiếng “<em>Huyền Quang</em>”. Nhà sư ngửa mặt lên trời lớn tiếng khấn:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211;      Kẻ đệ tử này nếu có điều gì bất chính, xin chư Phật cho đày xuống A-tì địa ngục,còn nếu không thì xin cho những cỗ mặn kia hóa thành chay tất cả!</p>
<p style="text-align: justify;">Tự nhiên một trận gió mạnh nổi lên, cát bụi mù mịt, trời đất tối sầm cả lại. Một chốc gió tan, mọi người nhìn lên đàn tràng thì lạ thay, tất cả các mâm cỗ mặn đều biến thành cỗ chay tinh khiết thơm tho.</p>
<p style="text-align: justify;">Vua Anh Tông được tin, lập tức ra lệnh bắt Điểm Bích bỏ ngục để chờ ngày phán xử rồi xa giá tới gặp Huyền Quang tạ lỗi. Câu nói đầu tiên của Huyền Quang là xin vua tha tội cho Điểm Bích.</p>
<p style="text-align: justify;">. . . .</p>
<p style="text-align: justify;">Nàng Điểm Bích có lẽ là nhân vật có thật trong lịch sử và là người vừa đẹp vừa có tài về văn chương. Việc nàng viếng thăm Yên Tử nơi nhà sư Huyền Quang trụ trì có lẽ cũng là có thật. Chuyện về nàng với sư Huyền Quang đời sau có người cho là thực, có người cho là do các nhà Nho bịa ra để hạ thấp uy tín của Phật giáo. Sự thật của chuyện này, không ai kết luận được nhưng nàng Điểm Bích vẫn ngàn năm bị miệng tiếng của người đời.</p>
<p style="text-align: justify;">Vài trăm năm sau khi viếng thăm Yên Tử,  lòng đầy cảm thương, Lê triều Tiến sĩ Ninh Tốn đã để lại bài thơ <strong>&#8220;Vân Bích Nương&#8221;</strong>:</p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #800000;"><strong>Bích nương từ buổi biệt sơn môn,</strong></span><br />
<span style="color: #800000;"><strong>Muôn thuở còn ghi, nỗi tủi hờn.</strong></span><br />
<span style="color: #800000;"><strong>Muốn mượn xạ lan, xông cửa Phật.</strong></span><br />
<span style="color: #800000;"><strong>Đâu ngờ cây đá, khóa thiền quan.</strong></span><br />
<span style="color: #800000;"><strong>Giai nhân không sức, gây nền Pháp,</strong></span><br />
<span style="color: #800000;"><strong>Nước tịnh hiềm chi, giả sắc oan</strong></span><br />
<span style="color: #800000;"><strong>Du khách bồi hồi, tìm dấu cũ</strong></span><br />
<span style="color: #800000;"><strong>Giã từ chẳng giữ, chút hương tàn</strong></span></p>
<p style="text-align: justify;" align="center"><strong>Ninh Quang Thăng</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/huyen-quang-diem-bich-va-bai-tho-van-bich-nuong-cua-ninh-ton/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Vài suy nghĩ về sự nghiệp của Ninh Tốn trong giai đoạn 1786 &#8211; 1790</title>
		<link>https://honinh.com/vai-suy-nghi-ve-su-nghiep-cua-ninh-ton-trong-giai-doan-1786-1790/</link>
					<comments>https://honinh.com/vai-suy-nghi-ve-su-nghiep-cua-ninh-ton-trong-giai-doan-1786-1790/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 13 Nov 2018 14:59:03 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2039</guid>

					<description><![CDATA[Vì thời gian cầm quyền quá ngắn nên triều Tây Sơn không để lại bộ sử chính thức của mình. Hơn nữa, các tài liệu nếu có cũng bị triều&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Vì thời gian cầm quyền quá ngắn nên triều Tây Sơn không để lại bộ sử chính thức của mình. Hơn nữa, các tài liệu nếu có cũng bị triều Nguyễn hủy bỏ. Vì vậy rất khó tìm các tư liệu liên quan đến các nhân vật thời Tây Sơn, nhất là các tài liệu liên quan đến những quan lại cũ của triều Lê phục vụ cho Tây Sơn.</p>
<p style="text-align: justify;">Giai đoạn từ 1786 đến 1790 xảy ra nhiều biến cố quan trọng ở Bắc Hà:</p>
<p style="text-align: justify;">Năm 1786, Tây Sơn đánh Phú Xuân, sau đó đánh ra Động Hải (Quảng Bình), chỉ huy quân Lê – Trịnh là Hiệp trấn Ninh Tốn thua trận bỏ chạy ra Bắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Cùng năm 1786, theo kế của Nguyễn Hữu Chỉnh, Tây Sơn tiến ra Bắc Hà lật đổ cơ đồ của Chúa Trịnh. Ngày 21/7/1786, quân Tây Sơn chiếm Thăng Long. Ngày 31/8/1786, quân Tây Sơn rút khỏi Bắc Hà, bỏ mặc Nguyễn Hữu Chỉnh ở lại.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối năm 1787, tướng Tây Sơn là Võ Văn Nhậm tiến ra Bắc đánh Nguyễn Hữu Chỉnh. Chỉnh tâu với vua Lê Chiêu Thống cho Nguyễn Như Thái làm thống lĩnh, Ninh Tốn làm tham tán quân vụ, đem quân chống Võ Văn Nhậm. Nguyễn Như Thái bị giết, Ninh Tốn chạy thoát được.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối năm 1788 quân Thanh kéo sang, quân Tây Sơn lui về giữ Tam Điệp. Ngày 22/12/1788, Nguyễn Huệ lên ngôi Hoàng Đế, tiến quân ra Bắc đánh quân Thanh. Ngày 15/1/1789 (tức 20 tháng 12 Âm lịch), quân Tây Sơn tới Tam Điệp. Ngày 5 Tết Âm lịch năm Kỷ Dậu (1789), quân Tây Sơn đại phá quân Thanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong một thời gian ngắn với rất nhiều biến cố như vậy mà lại thiếu các tài liệu sử sách của nhà Tây Sơn, việc đánh giá những nhân vật lịch sử liên quan đến thời điểm đó có nhiều quan điểm khác biệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Xin bàn một số điều liên quan đến cuộc đời, sự nghiệp của Ninh Tốn trong thời gian đó:</p>
<p style="text-align: justify;">1)  Một số tác giả cho rằng việc Ninh Tốn ra giúp Tây Sơn (năm 1788) là “<em>một quá trình lột xác</em>” và ông đã “<em>thức thời, tự giác theo Tây Sơn</em>”. Nhưng một số tác giả khác thì lại cho rằng đây là sự miễn cưỡng, thậm chí là bị đe dọa, ép buộc. Sách Đại Nam Chính Biên Liệt Truyện viết “<em>Ninh Tốn lúc trước trốn tránh không chịu ra, Huệ bắt em là Hương Công lôi ra chém đi để cho Tốn sợ, sau Ninh Tốn mới ra”.</em> Tuy nhiên, lúc bấy giờ cũng là thời điểm có thể dẫn đến sự nguy nan của đất nước trước sự cầu viện nhà Thanh của Lê Chiêu Thống và một số quan lại cũ của nhà Lê. Do đó việc ông ra làm quan với Tây Sơn có lẽ cũng là trách nhiệm của một &#8220;<em>kẻ sỹ</em>&#8221; trước vận mệnh của đất nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Cho nên nói rằng đó là sự tự giác hay ngược lại nói rằng đó là bị ép buộc có lẽ đều đúng nhưng lại không hoàn toàn đúng.</p>
<p style="text-align: justify;">Chính vì vậy, ông đã hòa vào thời cuộc của đất nước nhưng ngay sau khi đánh thắng quân Thanh xâm lược (đầu năm 1789) thì ông đã từ quan về quê (năm 1790 hoặc sớm hơn).</p>
<p style="text-align: justify;">2)  Năm 1788, Nguyễn Huệ ra Bắc Hà giết Võ Văn Nhậm.  Trước khi rút về Nam, Nguyễn Huệ đã tổ chức lại hệ thống cai trị ở Bắc Hà, mời các danh sĩ Bắc Hà giúp Đại tư mã Ngô Văn Sở đảm đương công việc. Theo các tài liệu sử học:</p>
<p style="text-align: justify;">Phan Huy Ích được phong chức Tả Thị Lang Bộ Hộ.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngô Thì Nhậm được phong chức Tả Thị Lang Bộ Lại, sau phong làm Thượng Thư Bộ Lại. Sau khi đánh tan quân Thanh (đầu năm 1789), đến năm 1790 Ngô Thì Nhậm giữ chức Thượng Thư Bộ Binh. Như vậy trong thời gian trước và trong trận chiến đánh quân Thanh (cuối 1788 đến 1789)  thì người giữ chức Thượng Thư Bộ Binh không phải Ngô Thì Nhậm.</p>
<p style="text-align: justify;">Cũng vào năm 1788, Ninh Tốn lúc đầu được Nguyễn Huệ phong chức Hàn Lâm Trực Học Sỹ, sau được phong Thượng Thư Bộ Binh và như đã biết, ngay sau khi đánh tan quân Thanh, năm 1790 Ninh Tốn đã về quê không còn làm việc cho Tây Sơn nữa. Như vậy, thời gian Ninh Tốn giữ chức Thượng Thư Bộ Binh phải trước năm 1790, trong khoảng thời gian của cuộc chiến chống quân Thanh.</p>
<p style="text-align: justify;">Trong cuộc đời của mình trước đó, Ninh Tốn không chỉ là quan văn. Ông đã từng là Hiệp Trấn, chỉ huy quân Lê – Trịnh giao tranh với Nguyễn Huệ tại Động Hải (năm 1786) và là Tham tán quân vụ trong quân đội nhà Lê giao tranh với Võ Văn Nhậm (năm 1787). Vốn là người Côi Trì ngay bên dãy Tam Điệp nên ông là người am hiểu rõ vị trí chiến lược của Tam Điệp. Khi cùng Nguyễn Như Thái giao tranh với Vũ Văn Nhậm. Nguyễn Như Thái gọi Ninh Tốn cùng bàn, Tốn nói:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; <em>Binh pháp dạy rằng</em>: <em>Tranh được núi thì thắng, giữ chỗ hiểm thì vững. Giữa Thanh Hoa nội và Thanh Hoa ngoại có núi Tam Điệp ngăn cách, ấy là chỗ trời đất xây dựng, rất là hiểm yếu. Ta nên tiến quân gấp để giữ lấy, chớ để quân giặc chiếm trước. Được như vậy thì từ Trường Yên về bắc còn là của mình. Nếu núi Tam Điệp mà mất, thì lộ Sơn Nam thênh thang với những cánh đồng bằng phẳng rộng rãi, e khó tranh nhau với giặc, việc nước sẽ không thể làm thế nào được nữa</em>”. (theo Hoàng Lê Nhất Thống Chí).</p>
<p style="text-align: justify;">Nhưng vì không kịp chiếm giữ Tam Điệp, Nguyễn Như Thái và Ninh Tốn thua trận.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi quân Thanh kéo sang (cuối năm 1788), quân Tây Sơn do Đại Tư Mã Ngô Văn Sở chỉ huy đã lui binh về Tam Điệp. Việc lui binh về Tam Điệp là một nước cờ cao về nghệ thuật quân sự. Sách Hoàng Lê Nhất Thống Chí của Ngô Gia Văn Phái ghi đó là kế của Ngô Thì Nhậm. Phải chăng vì Ngô Thì Nhậm là vị đứng đầu trong số các quan lại Bắc Hà lúc đó mà người ta chỉ nhắc đến tên ông như nhân vật đại diện cho cả bộ tham mưu gồm những danh sỹ Bắc Hà lúc đó hay không?</p>
<p style="text-align: justify;">Trước một biến cố vô cùng hệ trọng đối với sự tồn vong của đất nước, trước nhất là của Bắc Hà, Ngô Văn Sở chắc phải tham vấn tất cả bộ tham mưu của mình gồm các tướng lĩnh Tây Sơn và các quan lại người Bắc Hà giúp việc cho mình lúc đó gồm Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Ninh Tốn, Bùi Dương Lịch, . . .</p>
<p style="text-align: justify;">Với vai trò một Thượng thư Bộ Binh, một người sinh ra và lớn lên ngay tại Tam Điệp, người đã thể hiện nhãn quan về vị trí chiến lược của Tam Điệp trong các sự kiện trước đó thì chắc chắn Ninh Tốn phải có những phân tích, đóng góp vào kế hoạch lui binh về Tam Điệp.</p>
<p style="text-align: justify;">Có lẽ, kế lui binh và thực hiện triền khai lui binh về Tam Điệp không phải chỉ là của một mình Ngô Thì Nhậm mà của cả bộ máy tham mưu lúc đó trong đó có Thượng Thư Bộ Binh Ninh Tốn.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Ninh Quang Thăng</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/vai-suy-nghi-ve-su-nghiep-cua-ninh-ton-trong-giai-doan-1786-1790/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Khảo cứu Dư địa chí Hải Dương với việc tìm hiểu về dòng họ</title>
		<link>https://honinh.com/khao-cuu-du-dia-chi-hai-duong-voi-viec-tim-hieu-ve-dong-ho/</link>
					<comments>https://honinh.com/khao-cuu-du-dia-chi-hai-duong-voi-viec-tim-hieu-ve-dong-ho/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 25 May 2018 07:15:42 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<category><![CDATA[họ ninh]]></category>
		<category><![CDATA[họ ninh hải dương]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=342</guid>

					<description><![CDATA[Hải Dương có thể xem như một trong những vùng đất tập trung khá nhiều người họ Ninh sinh sống từ lâu đời. Hiện tại, chúng ta được biết những&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Hải Dương có thể xem như một trong những vùng đất tập trung khá nhiều người họ Ninh sinh sống từ lâu đời. Hiện tại, chúng ta được biết những thông tin sau:</p>
<ul>
<li>Văn bia trong Quốc Tử Giám còn ghi: Ninh Hãng nguyên quán xã Lan Đình huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương) đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478) triều vua Lê Thánh Tông, làm quan Hiến sát sứ. Theo sách Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục thì ông đỗ tiến sỹ năm 42 tuổi nên năm sinh của ông phải là năm 1437.</li>
<li>Làng Ninh Xá – xã Lê Ninh xưa kia có tên là làng Nành. Như trong một bài viết trên website trước đây, chúng tôi đã phân tích rằng  “Nành” chính là âm Nôm của chữ Ninh.</li>
</ul>
<p>Đầu thế kỉ XIX, Ninh Xá  thuộc tổng Kim Lợi &#8211; huyện Đông Triều &#8211; phủ Kinh Môn (Hải Dương). Từ năm Tự Đức thứ 6 (1853) đến năm Đồng Khánh thứ 2 (1887), Ninh Xá thuộc huyện Đông Triều (Quảng Ninh).  Đến năm Thành Thái thứ 5 (1893) Ninh Xá thuộc Tổng Khôi &#8211; huyện Hiệp Sơn &#8211; phủ Kinh Môn (Hải Dương). Năm Duy Tân thứ 3 (1909), Ninh Xá  thuộc huyện Đông Triều (Quảng Ninh). Đến năm Khải Định thứ 9 (1924), Ninh Xá thuộc huyện Hiệp Sơn &#8211; phủ Kinh Môn (Hải Dương). Hiện nay, Ninh Xá thuộc huyện Kinh Môn – tỉnh Hải Dương.</p>
<p>Làng Ninh Xá xưa là vùng bãi rộng, cây cối rậm rạp, nhiều sông ngòi rộng. Trong trận chiến Bạch Đằng đánh quân Nam Hán năm 938, Ngô Quyền đã chọn nơi này làm nơi tập kết binh mã. Năm 1288, trong trận Bạch Đằng lần thứ 2 đánh quân Nguyên do Hưng Đạo Đại Vương Quốc Công Tiết Chế Trần Quốc Tuấn chỉ huy thì nơi đây cũng là một vị trí then chốt.</p>
<p>Vào những năm thuộc niên hiệu Hồng Đức (1470 – 1497), vua Lê Thánh Tông ban hành chính sách <em>“chiếm xạ”</em>  nhằm khuyến khích dân khai phá đất hoang, lập ấp. Họ Ninh từ cụ Ninh Viết Thân là một trong vài dòng họ đến khai phá vùng này vào thời kỳ đó và cái tên Ninh Xá mang nghĩa là làng của người họ Ninh.</p>
<p>Đình Ninh Xá còn lưu giữ 16 sắc phong và trong Thần phả của đình còn ghi lại 34 sắc phong. Trong số các sắc phong này, bản sớm nhất là vào năm Quang Thiệu thứ 7 (1522) thời vua Lê Chiêu Tông.</p>
<ul>
<li>Thôn Tràng Kỹ &#8211; xã Tân Trường – huyện Cẩm Giàng là làng có họ Ninh sinh sống từ khoảng 400 năm trước. Nhà thờ họ Ninh tại đây thờ Cụ Ninh Văn Trai và tính tới nay được khoảng 20 đời. Hiện có khoảng 100 hộ gia đình với gần 500 nhân khẩu.</li>
<li>Thôn An Bình – xã Tuấn Hưng – huyện Kim Thành là một làng cổ. Người họ Ninh đầu tiên đến đây là cụ Ninh Đình Quế thụy Phúc Khánh. Tại làng  có 3 cột đá còn khắc bằng chữ Hán tên các cụ Ninh Đình Quế, Ninh Thị Khuya, Ninh Phú Bình. Gia phả họ Ninh tại đây ghi được từ Cụ Ninh Đình Quế  đến nay là 12 đời. Hiện tại đây có 4 ngành, 7 chi gồm khoảng 300 hộ gia đình với khoảng 800 nhân khẩu.</li>
</ul>
<p>Xin Quý vị theo dõi trên Bản đồ để thấy rõ hơn địa bàn cư trú của các chi, phái họ Ninh tại Hải Dương:<img decoding="async" class="aligncenter" src="https://honinh.com/files/assets/haiduong.jpg" alt="" width="578" height="286" /></p>
<p>Địa giới hành chính theo thời gian, trải qua các Triều đại đã bị thay đổi rất nhiều. Lấy địa danh hiện tại để hiểu chuyện xưa có thể sẽ không thấu đáo. Chúng tôi khảo cứu các sách Dư địa chí để hy vọng cùng nhau hiểu rõ hơn quá trình định cư của các chi, phái dòng họ Ninh tại Hải Dương nhằm từng bước kết nối thông tin:</p>
<p>Thời nhà Lý, Trần: đơn vị hành chính lớn nhất được gọi là Lộ. Vùng đất Hải Dương ngày nay lúc đó thuộc Hồng Lộ, sau đổi thành Lộ Hải Đông.</p>
<p>Thời nhà Lê: đơn vị hành chính lớn nhất được gọi là Đạo và lúc đó nước ta được chia thành 5 Đạo. Vùng đất Hải Dương ngày nay lúc đó thuộc Đông Đạo. Đến đời Lê Thánh Tông (vào năm 1446), đổi Đạo thành Đạo Thừa Tuyên và nước ta lúc đó được chia thành 13 Đạo Thừa Tuyên.  Vùng đất Hải Dương ngày nay lúc đó thuộc Thừa tuyên Nam Sách. Đến năm 1469, đổi tên Thừa tuyên Nam Sách thành Thừa tuyên Hải Dương. Đến năm 1509 Thừa tuyên Hải Dương đổi thành Trấn Hải Dương. Trong thời nhà Mạc thì Trấn Hải Dương đổi tên thành Dương Kinh. Thời Lê Trung Hưng lại đổi Dương Kinh thành Trấn Hải Dương.</p>
<p>Năm Minh Mạng thứ 12 (1831), Trấn Hải Dương đổi thành tỉnh Hải Dương. Như vậy từ 1831, lần đầu tiên xuất hiện danh từ “tỉnh Hải Dương”.</p>
<p>Trong thời phong kiến, dưới Đạo Thừa tuyên (hoặc Trấn) là Phủ. Dưới Phủ là Huyện.</p>
<p>Từ năm 1469, Hải Dương gồm 4 Phủ: Thượng Hồng, Hạ Hồng, Nam Sách, Kinh Môn. Như vậy từ 1469, Nam Sách chỉ còn là tên của 1 trong 4 Phủ  (ngày nay chỉ là tên của 1 huyện). Năm Minh Mạng thứ 3 (1822), đổi tên Phủ Thượng Hồng thành Phủ Bình Giang và Phủ Hạ Hồng thành Phủ Ninh Giang.</p>
<p>Vào thời Tây Sơn, Phủ Kinh Môn được cắt khỏi Trấn Hải Dương để nhập vào Trấn Yên Quảng. Đến thời nhà Nguyễn, lại nhập Phủ Kinh Môn về Trấn Hải Dương. Kinh Môn xưa kia không phải là 1 huyện mà là 1 trong 4 Phủ của Hải Dương. Phủ Kinh Môn thời đó gồm 7 huyện: Giáp Sơn, Đông Triều, Kim Thành, An Lão, An Dương, Nghi Dương và Thuỷ Đường.</p>
<p>Đến năm Minh Mạng thứ 18 (1837), lấy 4 huyện Kim Thành, An Lão, An Dương, Nghi Dương lập thành Phủ Kiến Thụy nên Phủ Kinh Môn chỉ còn 3 huyện Giáp Sơn, Thủy Đường, Đông Triều.</p>
<p>Huyện Kinh Môn ngày nay chỉ là huyện Giáp Sơn thuộc Phủ Kinh Môn xưa kia. Như vậy các huyện Kinh Môn và Kim Thành ngày nay trong một thời gian dài trước năm 1837 đều cùng thuộc Phủ Kinh Môn.</p>
<p>Trong các năm 1947-1955, huyện Kinh Môn thuộc tỉnh Quảng Yên. Khi sát nhập 2 tỉnh Hải Dương và Hưng Yên thành tỉnh Hải Hưng vào năm 1968 thì huyện Kinh Môn sáp nhập với huyện Kim Thành để thành lập huyện Kim Môn. Đến năm 1997, khi tái lập tỉnh Hải Dương thì tách trở lại như trước.</p>
<p>Việc tìm hiểu về dòng họ nếu chỉ dựa vào các bản Gia phả sẽ gặp những khó khăn vì việc ghi chép Gia phả chủ yếu chỉ từ thời Hậu Lê về sau. Theo chúng tôi thì cùng với Gia phả, cần khảo cứu bổ trợ từ góc độ lịch sử, địa lý để tiếp tục suy đoán nhằm kết nối các thông tin.</p>
<p><em>Sài Gòn ngày 7/1/2014</em></p>
<p><strong>  Ninh Quang Thăng</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/khao-cuu-du-dia-chi-hai-duong-voi-viec-tim-hieu-ve-dong-ho/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Cần có giải pháp khôi phục, bảo tồn Làng cổ ở Trường Yên</title>
		<link>https://honinh.com/can-co-giai-phap-khoi-phuc-bao-ton-lang-co-o-truong-yen/</link>
					<comments>https://honinh.com/can-co-giai-phap-khoi-phuc-bao-ton-lang-co-o-truong-yen/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 25 May 2018 07:15:19 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<category><![CDATA[Hoa Lư]]></category>
		<category><![CDATA[Trường Yên]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=340</guid>

					<description><![CDATA[Nằm ở khu vực trung tâm kinh thành Hoa Lư xưa, xã Trường Yên có lịch sử cách đây hàng nghìn năm, vì vậy, những ngôi làng cổ ở đây&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><em>Nằm ở khu vực trung tâm kinh thành Hoa Lư xưa, xã Trường Yên có lịch sử cách đây hàng nghìn năm, vì vậy, những ngôi làng cổ ở đây tích tụ trong mình biết bao những trầm tích về văn hóa, lịch sử và kiến trúc. Với những lý do khác nhau, những giá trị ấy đến nay đã bị mai một ít nhiều.</em></p>
<p>Trường Yên hiện nằm trong khu vực đề nghị Unesco công nhận là di sản thế giới, do đó, ngoài việc chú trọng bảo tồn các di tích cũng rất cần có các giải pháp lưu giữ những ngôi làng cổ nhằm mục đích phát triển du lịch.</p>
<p>Theo sử sách, Kinh đô Hoa Lư xưa được bao bọc bởi những tường thành thiên tạo và nhân tạo, có những lầu các, cung điện nguy nga. Nhưng do biến cố của lịch sử, những cung điện đó hiện nay không còn nữa.</p>
<p>Tuy nhiên, dấu tích của một vùng kinh đô thì vẫn còn rõ với các công trình kiến trúc như <em>Đền thờ Vua Đinh Tiên Hoàng và Vua Lê Đại Hành, chùa Nhất Trụ có kinh phật bằng đá hình bát giác, trên khắc bài kinh Lăng Nghiêm, phủ bà Chúa thờ công chúa Phất Kim, Lăng Vua Đinh, lăng vua Lê, đình Yên Trạch, đình Yên Thành, Phủ Kình Thiên thờ Kình Thiên đại vương là con cả vua Lê, Phủ Đông Vương thờ Đông Thành đại vương.</em></p>
<p>Ngoài ra còn có chùa Bà Ngô, chùa Cổ Am, đền Bim, chùa Duyên Ninh, đền Vực Vông, chùa Kim Ngân&#8230; Đây là những di tích có giá trị rất lớn về lịch sử và kiến trúc. Bên cạnh việc ken dày các di tích, Trường Yên cũng có nhiều ngôi nhà cổ xen kẽ trong các làng như: Làng Yên Thành, Yên Thượng, Chi Phong, Lạc Hối&#8230;</p>
<p>Những ngôi nhà cổ ở đây mang nét đặc trưng của châu thổ Bắc Bộ, được hình thành từ những tập quán sinh hoạt văn hóa lâu đời. Các nhà nghiên cứu còn so sánh Hoa Lư với đô thị Tràng An, đô thị cổ nhất của Trung Hoa qua vế đối “Hoa Lư đô thị Hán Tràng An”.</p>
<p>Nhìn chung các kiến trúc được nhà nước xếp hạng đều được quan tâm tu sửa, tôn tạo. Đình làng là những công trình kiến trúc tiêu biểu của làng quê ở Trường Yên, mang những nét kiến trúc cổ xưa, là nơi sinh hoạt của làng. Hiện nay, một số hoạt động của người dân diễn ra ở nhà văn hóa, do đó những ngôi đình ở đây ít diễn ra các hoạt động, nên đã dần xuống cấp, khuôn viên ít được quan tâm tu sửa, mỗi năm chỉ diễn ra một vài lần tế lễ. Đây là vấn đề mà chính quyền địa phương cần quan tâm không chỉ để bảo tồn sự nguyên trạng của kiến trúc mà còn làm sống dậy những hoạt động của không gian đình làng xưa.</p>
<p>Không chỉ có những vẻ đẹp trong kiến trúc, đến Trường Yên ta còn bắt gặp những mái ngói cổ kính, rêu phong. Trước mỗi sân nhà có những hàng cau rất đặc trưng của làng quê bắc bộ, với quan niệm về phong thủy “trước cau, sau chuối”, mang dáng vẻ thanh bình và hoài cổ, một không gian đậm hồn đất Việt.</p>
<p>Ông Nguyễn Cao Tấn, Phó Giám đốc Ban quản lý danh thắng Tràng An cho biết: Xã Trường Yên nằm trong quần thể đệ trình Unesco công nhận là di sản thế giới, do đó, những làng cổ ở Trường Yên thu hút sự quan tâm đặc biệt. Theo thống kê sơ bộ hiện có khoảng trên 50 nhà cổ nằm rải rác trong toàn xã, một số vẫn giữ được nguyên trạng, một số đã xuống cấp. Do nhu cầu cuộc sống cũng như ý thức của người dân nên kiến trúc làng quê đã bị phá vỡ ít nhiều, những ngôi nhà cao tầng được xây cạnh những ngôi nhà cổ, có những ngôi nhà cổ còn bị phá bỏ để xây mới.</p>
<p>Hiện có hai kiến trúc tiêu biểu giữ được nguyên trạng, được xếp hạng di tích lịch sử cấp tỉnh như nhà thờ họ Giang và nhà thờ họ Dương. Đó là những vấn đề đang được đặt ra, Ban sẽ có những nghiên cứu phục vụ cho công tác bảo tồn và phát huy những giá trị của những ngôi nhà cổ nơi đây.</p>
<p>Mỗi vùng quê đều có những đặc trưng vùng miền. Nếu đến làng cổ Đường Lâm (Sơn Tây) ta gặp những ngôi nhà cổ, những tường gạch bong tróc, xưa cũ, những con đường làng được lát gạch, thì đến Trường Yên ta trở về với núi đá giăng thành, ở đây đá là một nét riêng biệt, đá hiện diện trong các công trình xây dựng, đó là những cột đá, những tường đá rêu phong dưới những tán cây, hay đó là những bậc thềm, bậc cầu ao bằng đá&#8230; Phải chăng Trường Yên là quê hương của ông tổ nghề xây dựng Ninh Hữu Hưng, nên kỹ thuật xây đá ở đây đạt đến một trình độ hoàn hảo, những bờ ao, bờ kênh được kè đá không cần dùng hồ, vữa.</p>
<p>Có thể nói Trường Yên hội tụ rất nhiều yếu tố thuận lợi để phát triển du lịch, khi có điểm nhấn là Khu di tích lịch sử văn hóa Cố đô Hoa Lư và ở một vị trí thuận lợi nằm cạnh khu du lịch sinh thái Tràng An, khu du lịch tâm linh núi chùa Bái Đính, mỗi năm đón hàng triệu du khách. Tuy nhiên cần có sự đầu tư hơn nữa để có những giải pháp đồng bộ nhằm khôi phục lại kiến trúc nhà cổ.</p>
<p>Thiết nghĩ ta có thể chọn một số điểm tiêu biểu để đầu tư trùng tu, tôn tạo giữ được hình ảnh đặc trưng của Trường Yên, tạo các tuyến đón khách du lịch, có chiến lược quảng bá cũng như tuyên truyền cho người dân thấy được những giá trị và lợi ích thiết thực, từ đó người dân sẽ đồng thuận và hưởng ứng. Đây là những bài học ta có thể đúc rút kinh nghiệm từ những điểm du lịch tương đồng trên đất nước như làng cổ Đường Lâm hay phố cổ Hội An.</p>
<p>Sự quan tâm đầu tư nghiên cứu, bảo tồn của các cấp, các ngành chức năng và chính quyền địa phương, cũng như có một chiến lược xây dựng và quảng bá hình ảnh làng cổ ở Trường Yên sẽ làm đa dạng các loại hình du lịch ở Ninh Bình, sẽ giữ chân du khách ở lại lâu hơn với vùng đất Cố đô nghìn năm lịch sử.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/can-co-giai-phap-khoi-phuc-bao-ton-lang-co-o-truong-yen/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Đọc Vũ Trung Tùy Bút của Phạm Đình Hổ khi tìm hiểu về họ Ninh</title>
		<link>https://honinh.com/doc-vu-trung-tuy-but-cua-pham-dinh-ho-khi-tim-hieu-ve-ho-ninh/</link>
					<comments>https://honinh.com/doc-vu-trung-tuy-but-cua-pham-dinh-ho-khi-tim-hieu-ve-ho-ninh/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 25 May 2018 07:14:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=338</guid>

					<description><![CDATA[Một số tác giả dựa vào cuốn Vũ Trung Tùy Bút (雨中隨筆)  của Phạm Đình Hổ (1763 – 1839) khi viết về dòng họ Ninh. Cụ thể, các tác giả này căn&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="boxgiua_wrap">
<div class="box_content_layer_l">
<div class="box_content_layer_2">
<div class="boxgiua">
<div class="boxgiua_lop1">
<div class="boxgiua_lop2">
<p>Một số tác giả dựa vào cuốn <strong>Vũ Trung Tùy Bút</strong> (<strong>雨中隨筆</strong>)  của Phạm Đình Hổ (1763 – 1839) khi viết về dòng họ Ninh. Cụ thể, các tác giả này căn cứ vào truyện “<strong>Việc thi cử</strong>” trong cuốn sách này<strong>.</strong></p>
<p>Tuy nhiên, truyện này có nhiều chi tiết không chính xác. Xin trích lại đoạn liên quan đến họ Ninh tại Côi Trì từ truyện “<strong>Việc thi cử</strong>” trong <strong>Vũ Trung Tùy Bút</strong> của Phạm Đình Hổ:</p>
<p><strong>“<em>Họ Ninh ở Côi Trì, tổ tiên trước vốn là người Ninh Xá, huyện Chí Linh. Khoảng năm Hồng Đức triều Lê, sau khi loạn lạc, điền thổ bỏ hoang nhiều, mới có lệnh cho mọi người khai hoang, làm được bao nhiêu là của mình bấy nhiêu. Các nhà thế gia hào hữu cứ tùy sức mà khai khẩn. Khi thành ruộng rồi thì khai số ruộng đưa lên bộ Hộ, xin làm ruộng tư, như thế gọi là phép chiếm xạ. Họ Ninh khi xưa khai khẩn ở huyện Yên Mô, sau nhiều người đến tụ họp, mới tách ra làm xã Côi Trì. Đời gần đây có Ninh Định đỗ Hội Nguyên, có tiếng hay chữ. Đến Ninh Tốn, biệt hiệu Mẫn Hiên (còn có hiệu Chuyết Sơn) là cháu gọi Ninh Định bằng chú. Khi hai mươi tuổi đã đỗ trường sinh, rồi đỗ hương cống, văn từ rất là cổ kính. Khoảng năm Cảnh Hưng, sĩ tập suy kém, văn thể hủ lậu, Trịnh Tĩnh Vương muốn biến cải mà chưa thể được. Một hôm, Tĩnh Vương ngự chơi núi Dục Thúy, thấy khoảng vách chùa trên núi có đề một bài thơ, Vương biết là thơ của Mẫn Hiên liền cho triệu vào làm Phiên liên Thiêm phó, rồi thăng chức Tiến triều Thiêm sai Tri phiên. Ông rất được chúa Trịnh yêu mến</em>.”</strong></p>
<p>Ta thấy:</p>
<p>1) Sự thực, trong bia Văn Miếu Quốc Tử Giám cũng như trong sách <strong>Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục</strong>không có ai tên là Ninh Định đỗ Hội Nguyên. Chỉ có Ninh Địch (寧迪) sinh năm 1687, đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân (Hoàng Giáp) khoa Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 14 (1718), giữ chức Huấn Đạo (Bia số 61 &#8211; Văn Miếu Quốc Tử Giám). Gia phả và các tài liệu được họ Ninh tại Côi Trì lưu giữ cũng đều ghi là Ninh Địch.<br />
Như vậy Phạm Đình Hổ đã ghi nhầm Ninh Địch thành Ninh Định.</p>
<p>2) Theo Gia phả họ Ninh tại Côi Trì: Cụ Ninh Lệnh (tự Hoằng Nghị) sinh năm Cảnh Trị thứ 3 (1665), thọ 81 tuổi. Cụ có các bà: chính thất là bà hiệu Từ Huệ, thứ thất là bà hiệu Từ Chính. Bà Từ Huệ sinh Ninh Địch và Thanh Chương. Bà Từ Chính sinh Nhã Thực, Ninh Ngạn (Thị Độc), Chỉ Huy, Tuy Hiệu.<br />
Bà chính thất hiệu Từ Huệ sinh năm Thịnh Đức thứ 3 (năm 1655). Bà thứ thất hiệu Từ Chính sinh năm Chính Hòa thứ 10 (1689). Hai bà hơn kém nhau 34 tuổi.<br />
Ninh Địch sinh năm Chính Hòa thứ 8 (1687), là con đầu của bà Từ Huệ.  Như vậy Ninh Địch sinh ra khi cụ Hoằng Nghị 23 tuổi (tính tuổi Âm). Ninh Địch còn nhiều hơn bà thứ mẫu Từ Chính (mẹ của Ninh Ngạn) 2 tuổi.<br />
Trong khi đó, Ninh Ngạn sinh năm Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715) khi cụ Hoằng Nghị 51 tuổi, mẹ là bà Từ Chính 27 tuổi (tuổi Âm), tức 26 tuổi Dương. Vì Ninh Địch hơn bà Từ Chính 2 tuổi nên ông hơn Ninh Ngạn 28 tuổi.<br />
Việc Ninh Địch hơn Ninh Ngạn tới 28 tuổi là điều bình thường.</p>
<p><img decoding="async" src="https://honinh.com/files/assets/doanchung3.jpg" alt="" width="568" height="222" /></p>
<p>Tóm lại: Ninh Địch là con bà chính thất, còn Ninh Ngạn là con bà thứ thất của cụ Hoằng Nghị. Ninh Ngạn sinh sau Ninh Địch 28 năm.<br />
Viện Hán Nôm khi giới thiệu sách <strong>Ninh Tướng Công Hành Trạng</strong> của Ninh Ngạn cũng viết rằng ông là em thứ tư của Ninh Địch (<strong><a href="http://hannom.vass.gov.vn/noidung/Disan/Pages/ky-hieu.aspx?ItemID=5511" target="_blank" rel="noopener">xin xem ở đây</a></strong>)<br />
Vì vậy, Ninh Tốn (con của Ninh Ngạn) phải gọi Ninh Địch là bác chứ không phải là chú như Phạm Đình Hổ đã viết trong <strong>Vũ Trung Tùy Bút</strong>.</p>
<p>3) Năm Canh Dần (1770) lúc 27 tuổi, Ninh Tốn có đến chơi rồi đề thơ ở núi Vân Lỗi (bài <strong>Vân Lỗi Sơn</strong>).</p>
<p><strong>Vân Lỗi Sơn</strong><br />
Ái Châu đa thắng quan<br />
Vân Lỗi kỳ nhất san<br />
U nham tàng phạn vũ<br />
Tiêu bích thuyên thần hàn<br />
Viễn củng thanh thiên đính<br />
Tiền vu bạch nhất loan<br />
Hoa thụ các kim cổ<br />
Thủy thạch tự mang nhàn<br />
Đăng lâm dạo đệ xứ<br />
Thân uyển tại vân đoan</p>
<p>Cùng năm đó, Chúa Trịnh Sâm đi xem xét phong tục, ngự chơi núi ấy, cho người khắc trên vách đá như sau:</p>
<p>Canh Dần đông, dư bái yết Sơn Lăng, lộ kinh Nga Sơn chi Vân Lỗi. Sơn sắc ba quang tú lệ khả ái. Viên kinh chu đăng ngạn, chúc lãm nhất biến. Ngâm hứng bột sinh, vĩnh lưu vu thạch:</p>
<p>Danh thắng cao tiêu đệ nhất châu,<br />
Sơn dung như đại thủy như du.<br />
Bán phong vân động yêu huyền hạc,<br />
Thiên trướng sa thinh hiệp bạch âu.<br />
Tuyết kính tiều duyên ngoan thạch cước,<br />
Tinh trình khách độ cấp than đầu.<br />
Bằng cao dục tận quan lạn hứng,<br />
Bích lạc thương minh nhất sắc thâu.</p>
<p>Đại nguyên soái Tổng quốc chính, Sư thượng, Thượng phụ Duệ đoán, Văn công Vũ đức Tĩnh vương ngự bút.</p>
<p>Nhân thấy trên vách đá có bài thơ <strong>Vân Lỗi Sơn</strong> của Ninh Tốn, Chúa Trịnh Sâm mến tài thơ mà triệu ông vào giữ chức Thiêm tri binh phiên.<br />
Qua cả 2 bài thơ trên, rõ ràng núi Vân Lỗi còn gọi là núi Vân Nham thuộc Ái Châu (Thanh Hóa), ở phía nam huyện Nga Sơn.<br />
Sách <strong>Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí</strong> của Phan Huy Chú viết &#8220;<em>Núi Vân Lỗi ở xã Bích Tuyền, huyện Nga Sơn, hình núi như bình phong, phẳng  lì và xanh biếc, sắc mây ánh vào trông lóng lánh như vàng. Đằng xa là cửa biển Bạch Câu, phong cảnh thoáng rộng</em>&#8220;.<br />
Trong khi đó, núi Dục Thúy (Dục Thúy sơn) còn gọi là núi Non Nước thuộc Ninh Bình là một ngọn núi nằm ngay trên ngã ba sông Vân với sông Đáy, kẹp giữa 2 cây cầu Non Nước và cầu Ninh Bình hiện nay.<br />
Như vậy Phạm Đình Hổ đã nhầm núi Vân Lỗi thành núi Dục Thúy.</p>
<p>4) Như chúng tôi đã phân tích trong các bài viết trước đây <strong><a href="https://honinh.com/bvct/donghoninh-dong-ho-ninh-la-xuyen-cham-khac-go/236/-tho-van-ninh-ton-1743-1795.html" target="_blank" rel="noopener">(xin xem ở đây)</a></strong>, căn cứ vào:<br />
&#8211;   Sách <strong>Ninh Tướng Công Hành Trạng</strong> của Ninh Ngạn.<br />
&#8211;   Gia phả họ Ninh tại Côi Trì và Trung Đồng.<br />
&#8211;   Bia<strong> Dã Hiên tiên sinh mộ biểu</strong>.<br />
&#8211;  Thời điểm họ Ninh tới lập nghiệp tại Ninh Xá – Hải Dương và tại Côi Trì – Ninh Bình là cùng vào khoảng những năm niên hiệu Hồng Đức triều vua Lê Thánh Tông.<br />
thì chúng ta có thể khẳng định rằng quê tổ họ Ninh tại Côi Trì không thể nào là Ninh Xá huyện Chí  Linh (nay là Ninh Xá  xã Lê Ninh huyện Kinh Môn – tỉnh Hải Dương) mà là Ninh Xá huyện Vọng Doanh (nay là Ninh Xá xã Yên Ninh huyện Ý Yên – tỉnh Nam Định).</p>
<p><strong>Vũ Trung Tùy Bút</strong> là tác phẩm có giá trị lớn dưới góc độ văn chương trong việc tìm hiểu các nét văn hóa – xã hội thời Lê Trung Hưng, đó là điều không thể phủ nhận. Nhưng như ta thấy, chỉ một đoạn ngắn trong bài “<strong>Việc thi cử</strong>” mà Phạm Đình Hổ đã có 4 điểm không chính xác về góc độ địa lý, lịch sử. Xem như vậy, không thể xem nó như cứ liệu về địa lý, lịch sử.</p>
<p>Đến trước năm 2010, vẫn còn một số người do xem tác phẩm <strong>Vũ Trung Tùy Bút</strong> như cứ liệu khi nghiên cứu về một số danh nhân họ Ninh tại Côi Trì nên tiếp tục nhầm lẫn. Rất tiếc là ngay gần đây, Video “<strong>Người từ núi Chuyết</strong>” phát trên VTV1 cũng nhầm như vậy .</p>
<p><strong>Ninh Quang Thăng</strong></p>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/doc-vu-trung-tuy-but-cua-pham-dinh-ho-khi-tim-hieu-ve-ho-ninh/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Gia phả học và việc nghiên cứu gia phả ở Việt Nam</title>
		<link>https://honinh.com/gia-pha-hoc-va-viec-nghien-cuu-gia-pha-o-viet-nam/</link>
					<comments>https://honinh.com/gia-pha-hoc-va-viec-nghien-cuu-gia-pha-o-viet-nam/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Fri, 25 May 2018 07:13:37 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=336</guid>

					<description><![CDATA[Gia phả học (Tiếng Trung Quốc: 家譜学, Tiếng Anh:Genealogy, Tiếng Pháp: Généalogie) là ngành học nghiên cứu về gia phả. Ngành học này đang được phát triển ở khắp nơi trên thế&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p><strong>Gia phả học</strong> (Tiếng Trung Quốc: 家譜学, Tiếng Anh:<em>Genealogy</em>, Tiếng Pháp: <em>Généalogie</em>) là ngành học nghiên cứu về gia phả.</p>
<p>Ngành học này đang được phát triển ở khắp nơi trên thế giới do xã hội và nhiều người trong xã hội nhận thấy gia phả là tài liệu quý không chỉ cho các gia đình, dòng họ mà còn cho nhiều ngành học khác. Các cuốn Gia phả  dù đơn sơ hay tương đối đầy đủ cũng đều là những tài liệu quý báu cho các nhà xã hội học, nhà sử học, nhà văn hóa học, . . . .</p>
<p>Trong việc lập gia phả, người ta sử dụng các tài liệu lịch sử, ngọc phả các đền, miếu; sử dụng các ghi chép về ngày giỗ, các thông tin truyền khẩu và các hồ sơ khác để có được thông tin về dòng họ và để chứng minh quan hệ giữa các thành viên trong dòng họ. Các kết quả thường hiển thị bằng Gia phả thành văn hay Phả đồ.</p>
<p>Trên thế giới, ngành Gia phả học Trung Quốc có lịch sử lâu đời nhất.  Nhưng việc ghi chép tộc phả ở Hàn Quốc mới phát triển mạnh cả về thể chế và phương pháp ghi chép, có mức độ phổ cập quốc gia rất cao.</p>
<p>Ở Việt Nam, việc ghi chép gia phả xuất hiện vào thời nhà Lý với việc vào năm 1026, vua Lý Thái Tổ sai biên soạn Hoàng Triều Ngọc Điệp.  Các triều đại tiếp theo tiếp tục có ghi chép gia phả của hoàng tộc: nhà Trần có Hoàng Tông Ngọc Điệp, nhà Lê có Hoàng Lê Ngọc Phả … Dần dần xuất hiện gia phả của các danh gia, quan lại và cứ thế lan rộng, phổ biến trong dân gian.</p>
<p>Gia phả học Châu Âu chính thức ra đời vào nửa sau thế kỷ XVI với các cuốn <strong>Lịch sử tổng quát các vương quốc Jêrusalem, Chypre, Arménie </strong>(<em>1575 – 1579</em>) của tác giả Delusignan  một nhà tu hành người Pháp ở vương quốc Chypre với việc khảo cứu về nguồn gốc các vua chúa, thân vương và các nhà đại quý tộc.</p>
<p>Ngành Gia phả học Âu châu phát triển ở thế kỷ XVIII và trở nên cực thịnh ở thế kỷ XX. Các tác phẩm nổi tiếng trong ngành học này có thể kể đến: <strong>Nguồn gốc lịch sử dòng họ quý phái</strong> gồm 20 tập của Gustave Chaix D’Est Ange xuất bản trong khoảng 1903 – 1929 khảo cứu hàng trăm dòng họ đương đại, <strong>Gia đình và phả hệ</strong> của Nam tước A.DeMaricourt xuất bản năm 1943 và <strong>Phương pháp phê bình gia phả học</strong> của Tử tước De Marsay xuất bản năm 1945.</p>
<p>Nhiều Hội nghị Gia phả học quốc tế đã được tổ chức: lần thứ nhất năm 1929 ở Barcelone, lần thứ hai năm 1953 ở Naples, lần thứ ba vào năm 1955 được tổ chức  ở Madrid (có 408 học giả thuộc 76 tổ chức đến từ 31 nước). Mùa hè năm 1991 tại Seoul (Hàn Quốc) đã diễn ra Hội nghị Phả học thế giới với sự tham gia của các học giả từ 180 nước. Hiện nay, rất nhiều nước đã có hội Phả học, có các Viện nghiên cứu phả học. Họ cho ra đời rất nhiều công trình có giá trị, tổ chức nhiều cuộc hội thảo lớn, có nhiều trang Web riêng cho lĩnh vực này.</p>
<p><img decoding="async" src="https://honinh.com/files/assets/dalan.jpg" alt="" />Nhà Phả học hàng đầu ở Việt Nam là Dã Lan Nguyễn Đức Dụ (1919 – 2001), nguyên là thủ thư của Đại học Kiến trúc Sài Gòn. Tác phẩm <strong>Gia phả &#8211; khảo luận và thực hành </strong>của ông được biên soạn công phu và khi hoàn thành, ông nhất định từ chối mọi sự tài trợ của ngoại quốc mà mong được sự giúp đỡ của người Việt Nam để xuất bản hầu phổ biến một ngành nghiên cứu văn hóa dân tộc cổ truyền vẫn được nhiều quốc gia xem là một khoa học (theo báo Chính Luận, chủ nhật 24/7/1972).</p>
<p>Tác phẩm được xuất bản và được trao giải Văn học nghệ thuật Quốc Gia (của Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa) năm 1972. Tác phẩm đã được gửi tới 29 Trung tâm văn hóa trên khắp thế giới.</p>
<p>Giáo sư Spencer J. Palmer, đại học Brigham Young University (Hoa Kỳ) đánh giá về tác phẩm <strong>Gia phả &#8211; khảo luận và thực hành</strong> <strong>&#8220;</strong>. . . <em>Tôi cam đoan rằng t</em><em>ác phẩm này vô cùng quan trọng trong việc đóng góp vào nền gia phả học của Á châu&#8230;</em>&#8220;.<strong> </strong></p>
<p>Nước Mỹ lúc đó đã cử ngay một đoàn gồm các giáo sư đại học tới Việt Nam gặp Dã Lan Nguyễn Đức Dụ sau khi tác phẩm của ông được Viện Đại học Brigham Young đánh giá cao. Ngày 21/7/1972, trong chuyến sang thăm Việt Nam, khi đến thăm ông tại nhà riêng,  giáo sư Richard C. Beals đã thán phục và phát biểu &#8220;. . . <em>Tôi đã được xem nhiều tài liệu về Gia phả học của nhiều xứ trên thế giới; nhưng có thể nói, đây là những tài liệu biên khảo lỗi lạc nhất &#8230;</em>&#8220;.</p>
<p class="pbody">Cố giáo sư Thái Ninh viết <em>“sau nhiều năm say mê nghiên cứu, ông Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã thực sự trở thành chuyên gia số một ở nước ta về gia phả học. Công trình <strong>Gia phả khảo luận và thực hành </strong>là một tác phẩm có giá trị khoa học và thực hành cao”</em>.</p>
<p class="pbody"><img decoding="async" src="https://honinh.com/files/assets/giaphakhaoluanvathuchanh.jpg" alt="" width="147" height="195" />Á Nam Trần Tuấn Khải viết  <em>“Gần cả đời mình để chuyên tâm miệt mài cho việc sưu tầm biên soạn gia phả các dòng họ ở Việt Nam. Công việc xứng đáng được gọi là vấn tổ tầm tông cho tiền đồ của dân tộc. Thật vậy cho đến nay có lẽ cũng mới chỉ có cụ Dã Lan Nguyễn Đức Dụ dành hàng chục năm trời cho sự nghiệp gia phả học Việt Nam</em>”.</p>
<p>Tiến Sĩ Hoàng Lê (Chủ biên cuốn “<em>Thơ văn Ninh Tốn</em>” và nhiều công trình nghiên cứu khác về dòng họ Ninh ) cho hay “<em>vượt lên sự công phu, cẩn trọng  Dã Lan Nguyễn Đức Dụ còn có một tố chất nữa mà không phải nhà nghiên cứu nào cũng có là uyên bác và thông minh</em>”.</p>
<p>Cụ Đào Tử Nghi  (chắt đích tôn của cụ Đào Tấn) đã ca ngợi Dã Lan Nguyễn Đức Dụ:</p>
<p align="center"><em>Ôi ngọn gió nào đưa hương thảo dã.</em></p>
<p align="center"><em>Ngỡ là tiên hóa ra lan.</em></p>
<p align="center"><em>Từ nơi sơn dã mà vương giả.</em></p>
<p align="center"><em>Lạc chốn lầm than chẳng thở than!</em></p>
<p>Gia phả ở nước ta đã có từ lâu, ý nghĩa và lợi ích của gia phả nhiều người đã thấy. Nhưng những cái gì là đặc điểm của gia phả Việt Nam, nó có gì khác biệt với gia phả của các nước khác, nhất là các nước Á Đông như Trung Quốc, Triều Tiên, Nhật Bản&#8230; Và xây dựng một bản gia phả như thế nào cho khoa học và thiết thực thì chưa hẳn đã có nhiều người hiểu rõ.</p>
<p>Trong tác phẩm <strong><em>Gia phả khảo luận và thực hành</em></strong>, ngoài việc trình bày một cách có căn cứ khoa học, lịch sử ra đời và phát triển của việc làm gia phả ở nước ta, Dã Lan Nguyễn Đức Dụ còn phân tích, so sánh rất công phu gia phả Việt Nam và gia phả các nước. Từ đó rút ra kết luận đầy sức thuyết phục về những đặc điểm riêng của gia phả Việt Nam.</p>
<p>Đặc biệt, sau khi đúc kết những ưu, khuyết điểm của những gia phả đã có, ông đã đề ra một phương pháp dựng phả tương đối khoa học với cách vẽ phả đồ, các phương pháp dựng phả thuận và nghịch, mẫu gia phả đơn dựng và hợp dựng, cách chép tên tuổi theo hệ thống ngang, hệ thống dọc&#8230; Đây thực sự là một cống hiến to lớn cho việc làm gia phả ở Việt Nam.</p>
<p>Chỉ riêng việc nghiên cứu kỹ càng về nguồn gốc một số dòng họ nổi tiếng như của Ngô Quyền, Đinh Tiên Hoàng, Nguyễn Kim, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Xí, Đào Tấn, Vũ Hồn, Mạc Thị, Phạm Ngũ Lão, Phạm Sư Mạnh, Trịnh Kiểm, Dương Khuê, Bùi Viện, Trần Trọng Kim, Quang Trung, Hồ Xuân Hương, Vũ Phạm Hàm, Nguyễn Thượng Hiền, Chu Mạnh Trinh, Nguyễn Khuyến, Lương Văn Can v.v&#8230; đã là sự công phu thể hiện trình độ nghiên cứu rất cao và kỹ lưỡng.</p>
<p>Cho đến nay, các nhà nghiên cứu thuộc nhiều lĩnh vực vẫn phải lật lại những Chương của cuốn sách <strong><em>Gia phả khảo luận và thực hành</em></strong> như các Chương: <strong>Nguồn gốc ngành gia phả Á Châu,  Ngành gia phả học Âu Châu, So sánh và phân tách quan niệm của Đông và Tây trong việc lập phả, Vấn đề gia phả ở miền Nam, Sự chuyển mình của gia phả Việt Nam, Những nét đặc thù của vài cuốn gia phả cũ và mới, Tình hình gia phả ở miền Bắc, Cách thức lập một cuốn phả mới</strong> &#8230;</p>
<p>Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về Gia phả đang được nhiều tổ chức và cá nhân quan tâm như:</p>
<ul>
<li>Chương trình Nghiên cứu gia phả Việt Nam thuộc Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển ở Hà Nội.</li>
<li>Chương trình nghiên cứu gia phả Việt Nam do Đại học Quốc gia Hà Nội cộng tác với Viện Viễn Đông Bác Cổ (EFEO) và các Đại học Paris VII (Pháp), Đại học Alberta (Canada).</li>
<li>CLB Unesco các dòng họ <a href="http://www.donghovn.com/news/gioithieu/31/nhiem-vu-khoa-hoc-cua-trung-tam--unesco-nghien-cuu-van-hoa-dong-ho-viet-nam.aspx" target="_blank" rel="noopener">(Xin bấm vào đây)</a></li>
<li>Trung tâm nghiên cứu &#8211; thực hành gia phả tại TP.HCM. <a href="http://giaphatphcm.com/giapha/" target="_blank" rel="noopener">(Xin bấm vào đây)</a></li>
</ul>
<p>Dã Lan Nguyễn Đức Dụ đã viết như một lời căn dặn cho hậu thế:</p>
<p align="center"><em>Nôm na gọi có mấy lời</em></p>
<p align="center"><em>Nhắn ai nòi Việt ngàn đời đừng quên</em></p>
<p align="center"><em>Chữ rằng “Mộc hữu bản, thủy hữu nguyên’’</em></p>
<p align="center"><em>Người mà bỏ gốc sao nên thân người&#8230;</em></p>
<p class="pBody">Mục đích biên chép gia phả của người xưa chỉ  là để con cháu biết rõ danh tính, hành trạng của tổ tiên và nguồn gốc quê hương, chi lưu của dòng họ. Đa số các quyển gia phả có lời tựa mở đầu bằng câu: <em>“Nước có sử, nhà có phả”</em>, Gia phả là cuốn lịch sử của gia tộc, trong đó nội dung cơ bản là ghi chép họ tên, tên tự, tên hiệu, tên thụy (tên hèm/tên cúng cơm), ngày tháng năm sinh tử, nơi an táng, hành trạng, kết hôn với ai, sinh mấy con, bao lần dời đổi nơi cư ngụ&#8230; của từng thành viên trong họ tộc, theo từng đời.</p>
<p class="pBody">Đối với việc ghi chép này, các dòng họ thế gia vọng tộc ngầm ý nhắc nhở con cháu cố giữ nếp nhà, lo chí tiến thủ để xứng với đời trước, giữ truyền thống lâu dài. Nhà bình dân thì đơn giản hơn, nhằm để người trong họ biết sự quan hệ gần xa nội ngoại.</p>
<p align="center">Dòng họ Ninh chúng ta cũng đã bước đầu có được những kết quả đáng khích lệ trong việc tìm về nguồn cội, kết nối những người cùng dòng họ hiện đang sinh sống tại khắp các địa phương trong nước và cả nước ngoài.</p>
<p style="text-align: left;" align="center"><em><strong>Ninh Quang Thăng</strong></em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/gia-pha-hoc-va-viec-nghien-cuu-gia-pha-o-viet-nam/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
