<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Danh nhân họ Ninh &#8211; Website chính thức của dòng họ Ninh tại Việt Nam</title>
	<atom:link href="https://honinh.com/danh-nhan/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://honinh.com</link>
	<description>Họ Ninh Việt Nam</description>
	<lastBuildDate>Sun, 13 Apr 2025 04:44:37 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>
	hourly	</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>
	1	</sy:updateFrequency>
	

<image>
	<url>https://honinh.com/wp-content/uploads/2018/11/Logo.jpg</url>
	<title>Danh nhân họ Ninh &#8211; Website chính thức của dòng họ Ninh tại Việt Nam</title>
	<link>https://honinh.com</link>
	<width>32</width>
	<height>32</height>
</image> 
	<item>
		<title>Một số Đạo sắc phong ở Côi Trì về cụ Ninh Địch</title>
		<link>https://honinh.com/mot-so-dao-sac-phong-o-coi-tri-lien-quan-den-ninh-dich/</link>
					<comments>https://honinh.com/mot-so-dao-sac-phong-o-coi-tri-lien-quan-den-ninh-dich/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Thu, 07 Mar 2019 08:59:17 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<category><![CDATA[Khảo cứu]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2232</guid>

					<description><![CDATA[Ninh Địch sinh năm 1687, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, đỗ Hoàng Giáp (Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân) khoa Mậu Tuất, niên&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Ninh Địch sinh năm 1687, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, đỗ Hoàng Giáp (Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân) khoa Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 14 (1718), giữ chức quan Huấn Đạo. Cụ là anh của Ninh Ngạn và bác của Ninh Tốn.</p>
<p>Trong số các Sắc phong còn lưu giữ tại Nhà thờ họ Ninh tại Côi Trì, có một số Sắc phong liên quan đến Ninh Địch.</p>
<p><strong>1.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1717</strong></p>
<p><img fetchpriority="high" decoding="async" class=" wp-image-2233 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/1NinhDich1717-300x99.png" alt="" width="718" height="237" /></p>
<p><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Thanh Liêm huyện &#8211; Côi Trì xã &#8211; Huấn đạo Ninh Địch. Vi Mậu Tuất khoa tứ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, thưởng ngũ tư. Phụng Đại nguyên soái tổng quôc chính sư thượng An Vương chỉ chuẩn nhậm chức tiến triều ứng vụ hữu triều đình kiểm nghị ứng nhậm Hiệu Lý chức, khả vi Cẩn sự lang, Hàn lâm viện hiệu lý &#8211; hạ liên. Cố sắc. Vĩnh Thịnh thập tứ niên, thập nguyệt nhị thập bát nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Huấn đạo Ninh Địch, người xã Côi Trì huyện Thanh Liêm. Khoa thi năm Mậu Tuất ban cho trúng đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, thưởng cho ngũ tư. Nay phụng đại nguyên soái tổng quốc chính sự thượng An vương chỉ chuẩn cho được tiến triều nhậm chức, giải quyết công vụ. Đã được triều đình kiểm nghị đáng được nhậm chức Hiệu Lý, nay khá thăng làm Cẩn sự lang, Hàn lâm viện hiệu lý, bậc hạ liên Vậy ban chiếu sắc Ngày 28 tháng 10 năm Vĩnh Thịnh 14 (1717)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>2.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1719</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2236 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/2NinhDich1719-2-300x99.png" alt="" width="742" height="245" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Cẩn Sự lang &#8211; Hàn Lâm viện Hiệu lý, Hạ liên &#8211; Ninh Địch, vi nhậm chức phả xứng, phụng Đại nguyên soái tổng quốc chính Sư thượng phụ Uy minh Nhân công Thánh đức An Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Đãi chế chức khả vi Mậu lâm tá lang, Hàn lâm viện đãi chế, Hạ giai. Cố sắc. Vĩnh Thịnh thập lục niên, lục nguyệt thập lục nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Cẩn Sự lang &#8211; Hàn Lâm viện Hiệu lý, Hạ liên là Ninh Địch vì ông nhậm chức xứng đáng, phụng chỉ phụng Đại nguyên soái tổng quốc chính Sư thượng phụ Uy minh Nhân công Thánh đức An Vương chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Đãi Chế, khá thăng phong là Mậu lâm tá lang, Hàn lâm viện đãi chế, Hạ giai. Vậy ban chiếu sắc Ngày 16 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh thứ 16 (1719).</p>
<p><strong> 3. </strong><strong>Sắc phong cho Ninh Địch năm 1725</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2237 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/5NinhDich1725-300x88.png" alt="" width="720" height="211" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc! Mậu Lâm tá lang, Hàn Lâm viện đãi chế hạ giai &#8211; Ninh Địch vi nhậm mãn xứng chức. Phụng đại nguyên soái tổng quốc chính sư thượng Thượng phụ Uy minh nhân công thánh đức An Vương chỉ chuẩn, hữu triều thần kiểm nghị ứng thăng Hiến sát sứ chức, khả vi Mậu Lâm lang Hải Dương đẳng xứ, Thanh hình hiến sát sứ ty hiến sát sứ hạ trật, cố sắc. Bảo thái ngũ niên, nhị nguyệt, nhị thập lục nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Sắc ban cho Mậu Lâm tá lang, Hàn Lâm viện đãi chế hạ giai là Ninh Địch. Vì nhậm chức mãn kỳ xứng đáng, phụng chỉ của Đại Nguyên soái tổng quốc chính sư thượng Thượng phụ Uy minh nhân công thánh đức An Vương (chúa Trịnh Cương), được các triều thần kiểm nghị, xứng đáng được thăng chức Hiến Sát sứ, khá thăng phong Mậu Lâm Lang Hải Dương đẳng xứ, hiến sát sứ của ty Thanh Hình bậc hạ trật. Vậy ban chiếu sắc. Ngày 26 tháng 2 năm Bảo Thái thứ 5 (1725)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>4.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1730</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2238 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/3NinhDich1730-300x99.png" alt="" width="761" height="251" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Hiển Cung đại phu,Đông các học sĩ tu thận thiếu doãn trung liệt Ninh Địch, vi hữu tâm thuật xứng chức khác địch trung cần phụng Đại nguyên soái thống quốc chính Uy Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Tự khanh chức khả vi Hoằng tín đại phu đại phu, Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển. Cố sắc. Vĩnh Khánh nhị niên, thất nguyệt sơ lục nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Hiển Cung đại phu,Đông các học sĩ tu thận thiếu doãn trung liệt là Ninh Địch vì ông có tâm thuật xứng đáng với chức vụ tỏ rõ lòng trung cần, phụng chỉ Đại nguyên soái thống quốc chính Uy Vương (Trịnh Giang) chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Tự Khanh, khá thăng phong là Hoằng tín đại phu đại phu, Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển. Vậy ban chiếu sắc Ngày 6 tháng 7 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730).</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>5.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1732</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><img decoding="async" class=" wp-image-2239 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/6NinhDich1732-300x89.png" alt="" width="751" height="223" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Hoằng Tín đại phu, phụng sai Nghệ An xứ phó đốc thị Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển Ninh Địch, vi hữu tâm thuật cán sự khác địch trung cần phụng Đại nguyên soái thống quốc chính thượng sư Uy Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Đại học sĩ chức khả vi Triều liệt đại phu, Đông các đại học sĩ, khuông mỹ thiếu doãn, trung chế. Cố sắc. Long đức nguyên niên, thập nhất nguyệt sơ cửu nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho Hoằng Tín đại phu phụng sai xứ Nghệ An phó đốc thị Thái Bộc tự khanh tu thận doãn, trung tuyển là Ninh Địch vì ông có tâm thuật mẫn cán công việc tỏ rõ lòng trung cần, phụng chỉ Đại nguyên soái thống quốc chính thượng sư Uy Vương (Trịnh Giang) chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Đại Học sĩ, khá thăng phong là Triều liệt đại phu, Đông các đại học sĩ, khuông mỹ thiếu doãn, trung chế. Vậy ban chiếu sắc Ngày 9 tháng 11 năm Long Đức thứ nhất (1732)</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>6.Sắc phong cho thân mẫu của Ninh Địch năm 1733.</strong></p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2240 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2019/03/4NinhDich1733-300x99.png" alt="" width="755" height="249" /></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Phiên âm Hán – Việt</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc Thanh Liêm huyện &#8211; Yên Phú đồng &#8211; Thiều Thị Thám, vi Triều liệt đại phu, Phụng sai Nghệ an xứ, phó đốc thị &#8211; Đông các đại học sĩ Ninh Địch thân sinh, Vô cố dự đắc phong tặng, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng phong tặng Nghi nhân. Khả phong tặng Nghi Nhân. Cố sắc. Long đức nhị niên, lục nguyệt thập nhị nhật.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong><em>Dịch nghĩa</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;">Sắc ban cho người ở Yên Phú đồng, huyện Thanh Liêm là Thiều Thị Thám. Nay vì bà là thân sinh của ngài Ninh Địch giữ chức Triều liệt đại phu, Phụng sai Nghệ an xứ, phó đốc thị &#8211; Đông các đại học sĩ trước đây bà chưa được dự phong tặng. Đã có chỉ chuẩn suy xét khá thăng phong là Nghi nhân. Vậy tặng phong Nghi Nhân. Vậy ban chiếu sắc Ngày 12 tháng 6 năm Long đức 2 (1733).</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/mot-so-dao-sac-phong-o-coi-tri-lien-quan-den-ninh-dich/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Giới thiệu Vũ Vu Thiển Thuyết của Ninh Ngạn</title>
		<link>https://honinh.com/gioi-thieu-vu-vu-thien-thuyet-cua-ninh-ngan/</link>
					<comments>https://honinh.com/gioi-thieu-vu-vu-thien-thuyet-cua-ninh-ngan/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Tue, 13 Nov 2018 15:55:50 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2053</guid>

					<description><![CDATA[Ninh Ngạn là cha của Ninh Tốn. Toàn bộ tác phẩm Vũ Vu Thiển Thuyết của cụ được Ninh Tốn sai người khắc trên bia đá. Bia được tạo năm&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;" align="center">Ninh Ngạn là cha của Ninh Tốn. Toàn bộ tác phẩm Vũ Vu Thiển Thuyết của cụ được Ninh Tốn sai người khắc trên bia đá. Bia được tạo năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781) hiện để tại từ đường họ Ninh ở Yên Mỹ, Tam Điệp, Hà Nam Ninh. Khổ bia 1,20m x 1,60m, hai mặt khắc chữ. Mỗi mặt gồm 31 dòng, mỗi dòng trung bình từ 6 đến 53 chữ. Tổng cộng 2889 chữ. Trán bia chạm rồng và mặt trời. Nội dung bia có 3 phần:</p>
<p style="text-align: justify;">+<em> Phần 1:</em> là<em> Lời dẫn, Lời đề</em> của Ninh Tốn giới thiệu tác giả Ninh Ngạn và tác phẩm<em> Vũ Vu thiển thuyết,</em> trong đó, có những đoạn như sau:<br />
“… Tốn tôi vâng lời di huấn, thẹn nỗi chưa làm theo được hết, bèn tự tay chép sách của Người vào đá rồi thuê thợ khắc, để chỉ bảo cho những ai trong đám con cháu mà muốn cầu đạo” (Tốn phụng thừa di huấn, quý vị tận hành. Nãi thử tả kỳ thư vu thạch nhiên công khắc chi, dĩ thị tử tôn chi cầu đạo giả).</p>
<p style="text-align: justify;">“… Cha ta phong tư cao mại, coi khinh giầu sang, chí bền chẳng đổi. Ở ẩn học đạo, làm thần thảnh thơi, điềm tĩnh tu dưỡng hơn 20 năm. Về già bỗng siêu ngộ: Đạo chứa trong thân, xử sự ứng vật thảy đều ở trong. Họ hàng làng mạc đều chịu ơn người, xa đến châu quận, gương lớn đều noi. Người đem tâm đắc viết sách, đặt lời, nhan đề<em> Thiển thuyết</em> để dạy cháu con rằng: “Ta bình sinh đem hết sức học nêu ở những điều này. Nếu làm được như lời ta dạy, cũng có thể không phải hổ thẹn”. Lời dạy của Người còn đó, ngày nào dám quên. Kính xét tập đó của Người có 45 chương. Anh em chúng ta đều phải lấy điều dạy sáng suốt đó mà giữ cho thân ta được trọn vẹn và cho các con cháu nữa”. (Duy ngã đại nhân cao mại chi tư, trần thị di tâm thái, trầm tiềm hàm dưỡng dư nhị thập tải, vẫn niên siêu ngộ: đạo tích quyết cung. Xử xự ứng vật tất do hồ trung. Tông tộc hương đảng hàm hóa kỳ đức, viễn cập châu quận mạc bất phi thức. Thường dĩ sở đắc trước thư lập ngôn, mệnh danh Thiển thuyết, lưu huấn nhi tôn viết: “Ngã bình sinh lực học tại thị. Năng hành ngô ngôn, diệc khả vô quý”. Di giáo tại nhĩ, hà nhật cảm vong. Cần án thi tập tứ thập ngũ chương. Phàm ngã huynh đệ, công thủ minh huấn, chu toàn thử sinh dĩ cập tự dân).</p>
<p style="text-align: justify;">+<em> Phần 2:</em> Khắc toàn văn bộ sách<em> Vũ Vu thiển thuyết</em> gồm quyển thượng, 24 chương và quyển hạ, 21 chương. Tổng cộng là 45 chương.</p>
<p style="text-align: justify;">Dưới đây, xin tóm tắt nội dung của các chương như sau:</p>
<p style="text-align: justify;">Chương 1 và 2: Bàn về chữ Hiếu, cách đánh giá, thế nào là hiếu, là bất hiếu.<br />
Chương 3: Quan hệ giữa nuôi và dạy con cái trong gia đình.<br />
Chương 4 và 5: Bàn về chữ Trung, nội dung và biểu hiện của lòng trung.<br />
Chương 6 và 7: Bàn về quan hệ vợ chồng.<br />
Chương 8: Bàn về điều Nhân.<br />
Chương 9: Bàn về chữ Tín.<br />
Chương 10: Bàn về đạo làm người.<br />
Chương 11: Biện luận về “dục chướng” và “lý chướng”. Quan hệ giữ “Lý” và “Đạo”.<br />
Chương 12: Giải thích về “bệnh thể” và “bệnh tâm”. Ba loại bệnh tâm là “giầu”, “sang”, “thọ”.<br />
Chương 13: Coi điều thiện làm thầy. Ai có điều thiện, dầu là kẻ dưới, đều nên coi là thầy mà học.<br />
Chương 14: Những biểu hiện khác nhau của Lý, áp dụng trong các mối quan hệ xã hội khác nhau.<br />
Chương 15: Người quân tử với điều nhân.<br />
Chương 16: Cái lý trong Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín.<br />
Chương 17: Kinh và Quyền, hai mặt thống nhất giữa Kinh và Quyền.<br />
Chương 18: Bàn về Đạo học của Tống Nho. Những hạn chế của nó.<br />
Chương 19: Những hạn chế của danh thần đời Tống như Hàn Kỳ, Tư Mã Quang… là không biết nghe người dưới.<br />
Chương 20: Quan hệ giữa Trí thông minh và Tâm cầu đạo.<br />
Chương 21: Hành động theo quy luật tự nhiên.<br />
Chương 22: Quan hệ giữa “Nghĩa” và “Lợi”.<br />
Chương 23: Dùng khách quan để đối chiếu lại mình, sửa bệnh chủ quan.<br />
Chương 24: Học không nệ cổ, không hùa theo tục.<br />
Chương 25: Chuyên tâm làm điều thiện.<br />
Chương 26: Những biểu hiện thiên hình vạn trạng của Lý, công hiệu của Lý.<br />
Chương 27: Vấn đề “lập đức”.<br />
Chương 28: Bàn về “liêm” và “trực”; “Bán liêm” và “Bán trực”.<br />
Chương 29 và 30: Làm điều tốt không cốt ở tiếng khen, đánh giá người phải xét lời nói và việc làm.<br />
Chương 31 và 32: Vấn đề tu dưỡng đạo đức, lập thân, lập danh.<br />
Chương 33 và 34: Những điều cần tránh: Rượu chè cờ bạc, sắc dục, lười biếng, nói năng khinh suất.<br />
Chương 35: Làm thiện gặp thiện, làm ác gặp ác.<br />
Chương 36: Vấn đề thành kính trong tế lễ.<br />
Chương 37 và 38: Bàn về xét mình, sửa mình, làm điều thiện, tránh điều ác.<br />
Chương 39: Bàn về sống và chết.<br />
Chương 40: Bàn về vinh và nhục.<br />
Chương 41: Quan hệ giữa thân và đạo.<br />
Chương 42: Bàn về “dụng tâm” và “vô tâm”, “cố kết” và “cảm hóa”.<br />
Chương 43: Nhận xét về Thuấn, Cổ Tẩu và Tượng.<br />
Chương 44: Quan hệ giữa giầu sang và nghèo hèn với Đạo.<br />
Chương 45: Bàn về “khí”, về “âm dương” về “tri giác”. Những biểu hiện muôn vẻ của “khí”.</p>
<p style="text-align: justify;">+<em> Phần 3:</em> Là<em> Lời bạt</em> của tiến sĩ Chu Doãn Lệ, hiệu Hy Thích, người Dục Tú, Đông Ngàn (nay thuộc Đông Anh, ngoại thành Hà Nội) đỗ cùng khoa với Ninh Tốn. Trong lời bạt, Chu Doãn Lệ nói rõ lai lịch của<em> Vũ Vu thiển thuyết,</em> động cơ của Ninh Ngạn khi viết tác phẩm, và đánh giá rất cao bộ sách: “Người đời nay học mà biết nói đến nghĩa lý quả là rất hiếm. Thảng hoặc có đi nữa thì cũng thường là người thiển cận, bị hạn chế ở chỗ đứng thấp. Người cao xa thì bị đắm đuối vào chỗ viển vông, người khéo léo thì cố đi vào gọt rũa mài đẽo, chứ chưa hề có ai nói gần mà chỉ được xa, lời không phiền toái rườm rà mà lý rất rõ như ở<em> Vũ Vu thiển thuyết.</em></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/gioi-thieu-vu-vu-thien-thuyet-cua-ninh-ngan/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Thơ văn Ninh Tốn (寧遜 1744 &#8211; 1795)</title>
		<link>https://honinh.com/tho-van-ninh-ton-%e5%af%a7%e9%81%9c-1744-1795/</link>
					<comments>https://honinh.com/tho-van-ninh-ton-%e5%af%a7%e9%81%9c-1744-1795/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Mon, 12 Nov 2018 13:22:07 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=2008</guid>

					<description><![CDATA[Số các bài thơ và văn xuôi của Ninh Tốn còn lưu lại vào khoảng 275 bài. Cuốn THƠ VĂN NINH TỐN do Hoàng Lê chủ biên được Nhà xuất bản&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Số các bài thơ và văn xuôi của Ninh Tốn còn lưu lại vào khoảng 275 bài. Cuốn <strong>THƠ VĂN NINH TỐN</strong> do Hoàng Lê chủ biên được Nhà xuất bản Khoa học Xã hội xuất bản năm 1984 gồm 108 bài, không in nguyên văn chữ Hán, chỉ có phiên âm Hán &#8211; Việt và dịch ra tiếng Việt .</p>
<p style="text-align: justify;">Do dựa vào tác phẩm <strong>VŨ TRUNG TÙY BÚT</strong> của Phạm Đình Hổ nên cuốn sách này ghi quê tổ họ Ninh tại Ninh Xá &#8211; huyện Chí Linh &#8211; tỉnh Hải Dương (nay thuộc huyện Kinh Môn). Cuốn sách này cũng không ghi được năm mất của Ninh Tốn.</p>
<p style="text-align: justify;">Tuy nhiên các tài liệu sau:<br />
[1]   <strong>NINH TƯỚNG CÔNG HÀNH TRẠNG</strong><em>,</em> Ninh Ngạn (cha của Ninh Tốn) biên soạn năm Giáp Thân niên hiệu Cảnh Hưng  (1764), sách của Thư viện Viện Hán Nôm, ký hiệu A. 1267<em>.</em><br />
[2]   <strong>GIA PHẢ HỌ NINH TẠI CÔI TRÌ</strong><br />
[3]   <strong>GIA PHẢ HỌ NINH TẠI TRUNG ĐỒNG</strong><br />
đều ghi ông tổ họ Ninh tại Côi Trì quê ở làng Ninh Xá huyện Vọng Doanh, đầu đời Hồng Đức đến khai khẩn đất hoang ở huyện Yên Mô, rồi lập ra làng Côi Đàm sau đổi thành Côi Trì.</p>
<p style="text-align: justify;">Các bản <strong>GIA PHẢ HỌ NINH TẠI CÔI TRÌ</strong>, <strong>GIA PHẢ HỌ NINH TẠI TRUNG ĐỒNG</strong> viết  <em>&#8220;. . . Thuỷ tổ Doãn Chung tính Ninh, thị Nam Định Vọng Doanh Ninh Xá nhân. Lê Hồng Đức nguyên niên ngoại gia kỳ địa hiệu Côi Đàm xã, kim cải Côi Trì&#8221;.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Thông tin giới thiệu sách <strong>NINH TƯỚNG CÔNG HÀNH TRẠNG</strong> của Viện Nghiên cứu Hán Nôm viết:</p>
<p><img decoding="async" class=" wp-image-2009 aligncenter" src="https://honinh.com/wp-content/uploads/2018/11/ninhtuongconghanhtrang-300x108.jpg" alt="" width="755" height="272" /></p>
<p style="text-align: center;"><em>(Nguồn: http://hannom.vass.gov.vn/noidung/Disan/Pages/ky-hieu.aspx?ItemID=5511)</em></p>
<p style="text-align: justify;">Ngay chính bản thân nhà nghiên cứu Hoàng Lê &#8211; tác giả chủ biên của cuốn <strong>THƠ VĂN NINH TỐN</strong>  sau đó cũng cho rằng gốc của họ Ninh tại Côi Trì là từ Ninh Xá &#8211; huyện Vọng Doanh &#8211; tỉnh Nam Định chứ không phải từ Ninh Xá &#8211; huyện Chí Linh &#8211; tỉnh Hải Dương. Sau khi xuất bản cuốn <strong>THƠ VĂN NINH TỐN</strong>, 5 năm sau trên Tạp chí Hán Nôm số 1 năm 1989, khi giới thiệu về <em><strong>Bia Dã Hiên tiên sinh mộ biểu</strong></em>, Hoàng Lê viết:<br />
&#8220;<em>Bia <strong>Dã Hiên tiên sinh mộ biểu</strong> tạo vào năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781) để ở từ đường họ Ninh, xã Yên Mỹ &#8211; huyện Tam Điệp; khổ bia 1×1,60m, chạm lưỡng long chầu nguyệt ở trán bia; 2 mặt bia đều khắc chữ, có 26 dòng từ 1 đến 37 chữ. Người soạn văn bia là Tiến sĩ Vũ Huy Đĩnh. Qua bia này, chúng ta được biết khá chi tiết về Ninh Ngạn, hiệu Dã Hiên, Hy Tăng Cư Sĩ: Ông sinh năm Ất Mùi, Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), mất năm Tân Sửu, Cảnh Hưng thứ 42 (1781). Tổ 8 đời nguyên quán ở Ninh Xá, Vọng Doanh, đến khai hoang lập ấp ở Côi Trì, Yên Mô từ đời Lê Hồng Đức</em>&#8220;.</p>
<p>Trong các<span style="color: #000000;"> <strong><a style="color: #000000;" href="http://www.hannom.org.vn/web/tchn/data/8501v.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">Tạp chí Nghiên cứu Hán &#8211; Nôm (số 1 năm 1985)</a></strong>, <strong><a style="color: #000000;" href="http://dinhvanviendhhl.blogspot.com/2012/12/inh-van-vien-ninh-ngan-nha-nho-nha-giao.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">Tạp chí Thế giới mới (số 38 )</a></strong>, . .</span> . nhiều tác giả khác như Nguyễn Đăng, Đinh Văn Viễn, . . .  cũng đều khẳng định Phạm Đình Hổ có sự nhầm lẫn về quê tổ họ Ninh nhánh Côi Trì.</p>
<p>Họ Ninh tại Ninh Xá &#8211; huyện Chí Linh &#8211; tỉnh Hải Dương từ cụ Ninh Viết Thân cũng chỉ  vào khoảng thời gian thuộc niên hiệu Hồng Đức, cùng khoảng thời gian với cụ tổ Doãn Chung của  họ Ninh tại Côi Trì. Điều này cũng chứng tỏ sự không hợp lý khi cho rằng quê tổ của họ Ninh tại Côi Trì là từ Ninh Xá &#8211; huyện Chí Linh &#8211; tỉnh Hải Dương.</p>
<p>Về năm mất của Ninh Tốn: Gia phả họ Ninh tại Côi Trì ghi Ninh Tốn mất ngày 5 tháng 5 năm Ất Mão niên hiệu Cảnh Thịnh năm thứ 3 triều Tây Sơn (năm 1795) thọ 52 tuổi.</p>
<p>Chúng tôi sẽ dần đăng các bài thơ, văn của Ninh Tốn lên website này. Quý vị bấm vào từng trang để xem.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/tho-van-ninh-ton-%e5%af%a7%e9%81%9c-1744-1795/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ninh Hữu Hưng (939 &#8211; 1019)</title>
		<link>https://honinh.com/ninh-huu-hung-939-1019/</link>
					<comments>https://honinh.com/ninh-huu-hung-939-1019/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 14:35:16 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<category><![CDATA[La Xuyên]]></category>
		<category><![CDATA[Ninh Xá]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=1937</guid>

					<description><![CDATA[Lão La Đại Thần tên thật là Ninh Hữu Hưng. Cụ sinh năm 939, mất năm 1019. Cụ làm quan phụ trách hậu cần và xây cất cho các triều&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;"><em>Lão La Đại Thần tên thật là Ninh Hữu Hưng. Cụ sinh năm 939, mất năm 1019. Cụ làm quan phụ trách hậu cần và xây cất cho các triều Đinh, Tiền Lê. Cụ là tổ của các làng nghề Ninh Xá Hạ, La Xuyên và các làng lân cận thuộc xã Yên Ninh, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.</em></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #800000;"><em>Cụ là tướng đặc biệt – tướng xây dựng, tướng hậu cần của vua Đinh, vua Lê. Cụ đã giúp triều đình dẹp loạn 12 sứ quân, đánh đuổi giặc Tống xâm lược, xây dựng cố đô Hoa Lư. Ứng dụng quy luật mộc sinh hoả – cụ đã phổ biến cách dùi cây lấy lửa cho binh lính trong hành quân, tiến quân hay phòng ngự, vẫn tự làm ra lửa để nấu nướng, làm lửa hiệu, đánh giặc. Về già cụ Ninh Hữu Hưng còn giúp dân các làng La xuyên, Ninh Xá Hạ học nghề chạm khắc gỗ, khảm trai.</em></span></p>
<p>&nbsp;</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thôn Chi Phong và Lão La Đại thần Ninh Hữu Hưng<br />
</strong>Chi Phong là một trong 7 làng cổ thuộc tổng Trường Yên xưa (Yên Trung, Yên Thượng, Yên Thành, Yên Hạ, Yên Trạch, Chi Phong, Lạc Hối) đồng thời là một trong 16 thôn của xã này (thôn Đông, thôn Đoài, thôn Nam, thôn Bắc, thôn Trung, thôn Tam Kỳ, thôn Trường An, thôn Chi Phong, thôn Tự An, thôn Trường Sơn, thôn Trường Thịnh, thôn Trường Xuân, thôn Tân Kim, thôn Vàng Ngọc, thôn Yên Trạch, thôn Đông Thành). Chi Phong vừa là thôn, vừa là làng do thuộc vòng thành phía tây vùng bảo vệ đặc biệt của cố đô Hoa Lư và dân cư thưa thớt hơn các làng cổ Yên Thành, Yên Thượng – vốn là nơi đặt cung điện năm xưa.</p>
<p style="text-align: justify;">Do nằm trong vùng bảo tồn đặc biệt của cố đô nên Chi Phong còn giữ được nhiều đặc điểm của một làng cổ với những truyền thống văn hóa đặc sắc.</p>
<p style="text-align: justify;">Ninh Hữu Hưng (939 – 1019) là ông tổ nghề mộc và nghề chạm khắc gỗ, khảm trai – một trong những lĩnh vực tiền đề quan trọng cấu thành nghề xây dựng sau này. Thần sắc từ thời Trần Thái Tông còn lưu tại đây ghi nhận điều này. Khi Đinh Tiên Hoàng dẹp được loạn 12 sứ quân, thống nhất đất nước và lập ra nhà nước Đại Cồ Việt  đã cho tuyển nhiều nhân tài về giúp triều đình, trong đó có Ninh Hữu Hưng. Ông được nhà vua giao cho việc xây dựng cung điện trong kinh đô và nhiều công trình khác như Hoa Lư tứ trấn và các đình chùa ở Trường Yên. Ninh Hữu Hưng được phong chức Công tượng lục phủ Giám sát đại tướng quân.Vì thế mà nhiều người xem Ninh Hữu Hưng như là ông tổ ngành xây dựng ở Việt Nam.</p>
<p><strong>Thôn Ninh Xá và Lão La Đại Thần Ninh Hữu Hưng </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thôn Ninh Xá cùng với một số thôn khác (thuộc xã Yên Ninh ngày nay) xưa kia được gọi là Thiết Lâm (rừng Lim).</p>
<p style="text-align: justify;">Trước thời Cụ Ninh Hữu Hưng, đền thờ 2 vị Lương Bình Vương và An Nhu Vương (đều là tướng và con của vua Hùng). Sau khi Cụ Ninh Hữu Hưng mất, cụ được Triều đình vua Lý Thái Tổ cho phối thờ trong Đền. Cũng do  truyền thuyết Cụ  học được nhiều  bí quyết nghề mộc từ cõi Diêm La nên Đền thờ  cả Diêm La Vương. Như vậy, từ đó đến nay Đền thờ các vị:</p>
<p>1.       Thiên tử Diêm La Vương</p>
<p>2.       Lương Bình Vương (tướng và con vua Hùng)</p>
<p>3.       An Nhu Vương (tướng và con vua Hùng)</p>
<p>4.       Lão La Đại Thần</p>
<p style="text-align: justify;">Nguyên trước kia đền cũ (còn gọi là “đền nhà vua”) ở gần cầu Tào hiện nay.</p>
<p style="text-align: justify;">Năm Vĩnh Thịnh thứ 8 (1712), Tào Xuyên Hầu Nguyễn Tất Khang cho dời đền lên vị trí hiện nay để tránh lụt lội.</p>
<p style="text-align: justify;">Bên phải đền còn có Phủ Mẫu thờ Đại Lan Công chúa – người đã giúp Hai Bà Trưng chống nhà Hán.</p>
<p style="text-align: justify;">Thần Phả  trong đền được viết lại vào năm Tự Đức thứ 22 (1869) do Tri huyện huyện Đại An, An Giang Bá Lê Huy Phan viết vì Thần phả cũ đã mất khi binh mã nhà Thanh tàn phá.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo truyền thuyết ghi trong Thần Phả:</p>
<p style="text-align: justify;">Ninh Hữu Hưng sinh năm 939, quê tại thôn Chi Phong, tổng Trường Yên, huyện Gia Viễn.</p>
<p style="text-align: justify;">Đinh Tiên Hoàng Đế dẹp được loạn 12 Sứ quân, thống nhất thiên hạ, lập nước Đại Cồ Việt, định đô tại Hoa Lư. Ông được giao phụ trách 6 phủ để xây dựng các cung điện tại Kinh đô Hoa Lư và vì vậy được phong chức Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi đánh thắng quân Tống, Lê Đại Hành giao cho ông phụ trách xây các điện Bách Bảo Thiên Tuế, Phong Lưu Tử Hoa, . . . (Giáp Thân năm thứ 5 triều vua Lê Đại Hành).</p>
<p style="text-align: justify;">Do có vũ dũng, ông được đi theo xa giá vua Lê Đại Hành. Ngày 24 tháng 4 năm Tân Mão (991), khi đỗ thuyền ở Thiết Lâm, vua Lê Đại Hành lên bờ ghé thăm đền thờ Lương Bình Vương và An Nhu Vương. Nhà vua thấy đền xiêu vẹo, hoang vắng bèn sai Ninh Hữu Hưng ở lại dốc sức tu sửa đền này và ngôi chùa gần đó sau được đặt tên là Phúc Lê Tự.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ đó, ông ở lại đất Thiết Lâm, lập ra trang ấp và dạy nghề mộc cho dân chúng. Công đức của ông rất sâu rộng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông mất ngày 6 tháng 4 niên hiệu Thuận Thiên (năm Kỷ Mùi 1019) triều vua Lý Thái Tổ. Con cháu và dân trong vùng đem linh cữu ông xuống thuyền trở về Chi Phong, chôn ở chân núi Xương Bồ (phía đông nam thôn Chi Phong ngày nay) và tâu việc lên triều đình. Vua Lý Thái Tổ ban cho ông tôn hiệu là Lão La Đại Thần Tiên Sư và cho con cháu ông và dân chúng trong vùng được mang thần vị ông vào phối thờ dưới Lương Bình Vương và An Nhu Vương ngụ ý xem đều là công thần nhà nước. Đất Thiết Lâm cũng được đổi thành Ninh Xá với nghĩa là làng của người họ Ninh.</p>
<p style="text-align: justify;">Đền làng Ninh Xá hiện còn lưu giữ 28 đạo sắc phong, trong đó:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211;          11 đạo thời Lê, sớm nhất là vào niên hiệu Vĩnh Thọ (1660)</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211;          2 đạo thời Tây Sơn</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211;          13 đạo thời nhà Nguyễn</p>
<p style="text-align: justify;">Trong số 28 đạo sắc phong còn lưu giữ thì chỉ còn giữ được 1 đạo sắc phong  cho Lão La Đại Thần được ban ngày 25 tháng 7 niên hiệu Khải Định thứ 9 (1924) nguyên văn là:</p>
<p style="text-align: justify;">“ Sắc Nam Định tỉnh, Phong Doanh huyện, Ninh Xá xã phụng sự Lão La Đại Thần tôn thần, hộ quốc tí dân nẫm trứ linh ứng.</p>
<p style="text-align: justify;">Tứ kim chính trị trẫm tứ tuần đại khánh, tiết kính ban bảo chiếu đàm ân lễ long đăng trật. Trứ phong vi dực bảo trung hưng linh phù tôn thần chuẩn kỳ phụng sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Phùng kỳ tướng hựu, bảo ngã lê dân.</p>
<p style="text-align: justify;">Khâm tai!</p>
<p style="text-align: justify;">Khải Định cửu niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật”</p>
<p style="text-align: justify;">Dịch nghĩa:</p>
<p style="text-align: justify;">Sắc cho xã Ninh Xá, huyện Phong Doanh, tỉnh Nam Định phụng thờ Lão La Đại Thần Tôn Thần, giúp nước giúp dân, thiêng liêng rõ rệt.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhân nay trẫm tứ tuần đại khánh từng ban chiếu để rõ ơn trên, long trọng việc lễ đăng trật. Vậy phong cho là vị tôn thần thiêng liêng phò giúp cho nền trung hưng của quốc gia, cho phép phụng thờ (như cũ).</p>
<p style="text-align: justify;">Mong thần che chở cho dân ta</p>
<p style="text-align: justify;">Kính vậy thay!</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày 25 tháng 7, niên hiệu Khải Định năm thứ 9.</p>
<p style="text-align: justify;"><em>Nội dung chung chung nhu trên cho thấy sắc phong này được vua Khải Định ban theo lệ khi có đại lễ khánh tiết, không phải là đạo sắc do xét công trạng mà  phong cấp lúc đầu. Điều này có nghĩa là trước đạo sắc này phải còn có những đạo sắc khác nữa mà nay không tìm thấy.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Trong đền còn có nhiều câu đối:</p>
<p align="center"><em>Quy viên cử phương, trí xảo do ư chưởng thượng</em></p>
<p align="center"><em>Chuẩn bình thẳng trực, hóa tài xuất tự trung hưng</em></p>
<p align="center">Nghĩa là:</p>
<p align="center"><em>Khuôn mẫu vuông tròn, khéo léo từ tay đục chạm</em></p>
<p align="center"><em>Mực thước ngay thẳng, diệu kỳ do có suy lường</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p align="center"><em>Sáng nghiệp tán huyền cơ, lẫm lẫm linh thanh hà nhạc tai</em></p>
<p align="center"><em>Hữu công lưu tự điển, hoàng hoàng chiếu sáng ngọc kim minh</em></p>
<p align="center">Nghĩa là:</p>
<p align="center"><em>Dựng nghiệp giúp mưu hay, nổi tiếng thiêng liêng cùng sông núi</em></p>
<p align="center"><em>Công ghi sử sách, lưu danh chiếu sáng vẻ vàng son</em></p>
<p align="center"><em>Vọng thiện nhiêu ích trường viên quả</em></p>
<p align="center"><em>Thánh đế long sừng thiện niệm căn</em></p>
<p align="center">Nghĩa là:</p>
<p align="center"><em>Chùa vọng thêm cho quả tu tròn trặn</em></p>
<p align="center"><em>Thánh vua cốt sao sự nghĩ tốt lành</em></p>
<p align="center"><em>Thụy khí nhân uân, mặc hộ Ninh hương nhân phồn vật phụ</em></p>
<p align="center"><em>Tường vân ái đại, âm phù Đại Việt quốc thái dân an</em></p>
<p align="center">Nghĩa là:</p>
<p align="center"><em>Điềm hay phảng phất, lặng giúp làng Ninh người phồn vật thịnh</em></p>
<p align="center"><em>Mây lành quanh quất, âm phù  Đại Việt quốc thái dân an</em></p>
<p align="center"><em>Hoàng Long quy động chương thần tích</em></p>
<p align="center"><em>Bạch mã đằng giang dực thánh công</em></p>
<p align="center">Nghĩa là:</p>
<p align="center"><em>Rồng vàng về động, rõ dấu Thần</em></p>
<p align="center"><em>Ngựa trắng sang sông giúp nghiệp Thánh</em></p>
<p align="center"><em>Mộc tượng giáo dân nguyên hữu ý</em></p>
<p align="center"><em>Kiến đô lập quốc sử lưu công</em></p>
<p align="center">Nghĩa là:</p>
<p align="center"><em>Dạy dân nghề mộc vốn có ý</em></p>
<p align="center"><em>Dựng đô, mở nước sử ghi công</em></p>
<p align="center">Văn tế Lão La Đại Thần Tiên sư tại đền Ninh Xá nguyên văn như sau:</p>
<p align="center"><em>Khâm duy:</em></p>
<p align="center"><em>Tiên sư sơn nhạc trừ tinh, hải hà chung tú</em></p>
<p align="center"><em>Đắc tổ phụ truyền lai chi nghiệp, trì gia mộc tượng vi lương</em></p>
<p align="center"><em>Văn kinh thư sở huấn chi ngôn, xử thế hòa nhu chí quý</em></p>
<p align="center"><em>Hạnh nhi: Tiên Hoàng Hoa động xuất thân, lư kỳ khởi nghĩa</em></p>
<p align="center"><em>Thập nhị sứ thảo đầu sương tán</em></p>
<p align="center"><em>Vạn lý cương thống nhất dư đồ</em></p>
<p align="center"><em>Đắc thượng mệnh thi vi thủ nghệ, cấu tác cung tường</em></p>
<p align="center"><em>Kế Lê hoàng trọng vọng lương tài, anh uy viễn chấn</em></p>
<p align="center"><em>Hữu thời tòng giá đáo Thiết Lâm tu từ sở</em></p>
<p align="center"><em>Tự thử cư giang ban cần kiệm tác sinh nhai</em></p>
<p align="center"><em>Kí nhi dữ trợ lương tiền xu chi khẩn thổ</em></p>
<p align="center"><em>Hựu hữu lư kỳ sinh kế, giáo dĩ mộc công</em></p>
<p align="center"><em>Chấp tứ sơ lục, niên niên vĩnh niêm chung thường</em></p>
<p align="center"><em>Sơ chí quy thần, thế thế trường lưu hương hỏa</em></p>
<p align="center"><em>Phục nguyên đại thần hạ giáng, thánh tổ dao văn</em></p>
<p align="center"><em>Dực phù xã tắc điện an, hoàng đồ củng cố</em></p>
<p align="center"><em>Vạn gia lợi lạc hanh thông</em></p>
<p align="center"><em>Thiên lý nhân tài vượng phát</em></p>
<p align="center"><em>Lão thiếu hàm mông đại huệ</em></p>
<p align="center"><em>Hương thôn cộng mộc hồng hưu</em></p>
<p align="center"><em>Vạn vọng, cẩn cốc.</em></p>
<p align="center">Nghĩa là:</p>
<p align="center"><em>Kính thay:</em></p>
<p align="center"><em>Tiên sư, tinh hoa non núi</em></p>
<p align="center"><em>Tú khí biển sông</em></p>
<p align="center"><em>Được cha ông truyền cho nghề nghiệp</em></p>
<p align="center"><em>Giữ nhà thợ mộc là hơn</em></p>
<p align="center"><em>Nghe sách kinh dạy bảo rõ ràng</em></p>
<p align="center"><em>Ở đời phải hòa mới quý</em></p>
<p align="center"><em>May sao, Tiên Hoàng cờ lau dấy nghĩa</em></p>
<p align="center"><em>Hoa động nương mình</em></p>
<p align="center"><em>Mười hai sứ quân sương trên ngọn cỏ, tan tác rã rời</em></p>
<p align="center"><em>Muôn ngàn dặm bờ cõi mở mang, dư đồ một mối</em></p>
<p align="center"><em>Được mệnh trên cho phép ra tay, dựng xây cung thất</em></p>
<p align="center"><em>Sau, Lê đế trọng dùng tài thực, nổi tiếng anh uy</em></p>
<p align="center"><em>Có khi theo phò giá Thiết Lâm, sửa sang đền sở</em></p>
<p align="center"><em>Từ đó ở bờ sông dựng nhà cửa, cần kiệm làm ăn</em></p>
<p align="center"><em>Rồi giúp cho dân có lương tiền, khuyên nên vỡ đất</em></p>
<p align="center"><em>Còn nghĩ dạy mọi người nghề mộc, kiếm kế sinh nhai.</em></p>
<p align="center"><em>Tháng Tư, mồng Sáu hàng năm nhớ mãi chung thường</em></p>
<p align="center"><em>Mới tới, về thần nối đời giữ gìn hương khói</em></p>
<p align="center"><em>Cúi trông:</em></p>
<p align="center"><em>Đại thần xét tới, Thánh tổ xa nghe</em></p>
<p align="center"><em>Phò cho xã tắc vững vàng, nghiệp vương củng cố</em></p>
<p align="center"><em>Nhà nhà nghề nghiệp yên vui</em></p>
<p align="center"><em>Ngàn dặm nhân tài vượng phát</em></p>
<p align="center"><em>Già, trẻ thảy nhờ ơn lớn</em></p>
<p align="center"><em>Xóm thôn đều đội phúc to</em></p>
<p align="center"><em>Muôn trông, cẩn cốc</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thần Phả  đền làng Ninh Xá do Tri huyện huyện Đại An, An Giang Bá Lê Huy Phan viết lại  vào năm Tự Đức  thứ 22 (1869) do Thần Phả  cũ đã mất vì quân Thanh tàn phá.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Phiên âm:</p>
<p style="text-align: justify;">Công tính Ninh, húy Hữu Hưng, Gia Viễn huyện, Trường An tổng, Chi Phong Xã nhân. Tự thiếu bản thị nhất nhân, hiếu học phả hữu dũng lực, cập trưởng hữu kế tổ phụ mộc tượng chi nghệ, nghệ trung đa cải sáng chí, cố hạt nội nhân tất giai tôn phục. Công thê thị hiền thục xã trung nhân năng trợ công nghệ trung đắc đa sự.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhất nhật, công phu thê khứ thuyền chí sơn thần miếu hành lễ, sự tất. Hồi thời ẩm thực hoàn chí sáng thụy khứ, đắc bán thời chi cửu, hốt kiến nhất nhân đầu phát hạo bạch thủ trì trúc trượng tiến nhập môn nội tiếu vấn hậu, huề công chí nhất đại động khẩu thâm thâm bất tri kỳ trường, tại động khẩu biên hữu nhị lực sỹ huề hướng chí nhất xứ điện các nguy nga, kim ngân phát lượng huy hoàng. Nhị lực sỹ toại phản hồi, kế hựu hữu nhất vị thân y thanh bào xuất chỉ nhập điện nội. Thử diện thanh Kim Quang tại dương gian quả vị tằng mục kiến. Ninh công khuynh mục tường kiến nhưng thẩn phục ư bệ tiền bất cảm ngưỡng dần quan khán.</p>
<p style="text-align: justify;">Diêm đế kim thanh vấn viết:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Trẫm văn nhữ tại trần gian hữu mộc nghệ tối ư tinh xảo, vị thử tầm nhữ lai trợ trẫm tác dịch, bất tri nhữ ý như hà?</p>
<p style="text-align: justify;">Ninh công tấu viết:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Vạn tuế! Ngu tiện hạ dân, nhược đắc thánh thượng hạ cố, hà ngôn bất cảm tận tâm.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhiên hậu, công đắc dẫn chí mộc tượng công trường mãn nhân nội chi nhất gian tường ốc, đắc giao cấu tác cung điện chi sự. Công toại tòng phân phó dữ trưởng nội chư nhân tác dịch. Tại thử hữu đa tinh thông nghệ nghiệp, Ninh công ý học sở đắc hựu tường cấu ốc bản hữu tham bán thi vị.</p>
<p style="text-align: justify;">Công ư thử đắc nhất độ cửu tư gia, toại tầm chí bệ tiền tấu trình viễn cách hương lý đích tư niệm, thỉnh đắc hồi gia. Diêm đế chuẩn kỳ từ thả giác viết:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Nhữ hồi, trẫm tứ tương kỳ sở lĩnh quy lai dĩ vi sinh kế nhiên bất khả tiết xuất nguyên do sở đắc chi nghiệp. Hiện kim tại nhữ hầu trung dĩ hữu nhất tiểu đao ư thử, nhược vi sự tất bất khả đắc sinh hoàn nhĩ!</p>
<p style="text-align: justify;">Ninh công tuân tòng kỳ ngôn, bái tạ xu hồi. Chí tình lai, kỳ sự dĩ quá tam nhật chi cửu hỹ. Gia nhân nhất giai tựu sàng đầu vấn tấn, nhiên công bất thuyết kỳ vãng sự như hà, chỉ ngôn thân thể thống muộn bất khoan nhi dĩ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tự thủ công dĩ thủ nghệ nhi gia môn nhật tiệm quang hay, hạt nội đa nhân tầm chí tòng học. Vị thử công khu nội gia cư tiệm chí trù mật. Chi Phong xã đa nhân điện tư thử.</p>
<p style="text-align: justify;">Thả ngôn Tiên Hoàng thu kỳ cương vực quy vu nhất thống, định đô tại Hoa Lư thành. Công ứng mạnh tựu kiến lập đế trị chư cung thất, công đắc thi vi sở năng chi hội, vị thử đắc thượng tứ “Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân chi chức”.</p>
<p style="text-align: justify;">Chí hậu Lê Đế phạt Tống sư xâm cảnh đắc thắng hoàn, tự lập vi đế tái sáng tạo cung thất, công hựu đắc trọng dụng như tiền đế nhật. Nhất nhật cảnh nội thăng bình đế toại hành khuyến nông canh tịch sự công vi kỳ hữu vũ dũng siêu nhân cố đắc trạch tòng giá. Chí hồi thì, bạc thuyền tại Thiết Lâm xứ, Đế đăng ngạn nhập Lương Bình Vương từ ngoạn thưởng, kiến kỳ cổ miếu hoang lương, tà dương không chiếu, tường ốc bán khuynh thanh đài phong thấp. Đế xúc cảnh sinh tình toại lưu công ư hành tại xứ đồng tu lý thần từ chi dịch. Thời Tân Mão niên gian tứ nguyệt nhị thập tứ nhật.</p>
<p style="text-align: justify;">Chí tu nhị vương từ sự hoàn, công hựu đắc thượng mạnh tái tu nhất tiểu phật tự, nhân thử tự đắc Phúc Lê tự hiệu, nãi kỳ Lê gia sở thủy kiến nguyên nhi danh chi dã.</p>
<p style="text-align: justify;">Tòng thử, công lưu cư ư thử xứ khuyến tử tôn tông tộc chư nhân khẩn thổ canh giá, hựu tương ngân tiền chiêu tứ chính dân lai tụ hội lập thành trang ấp, hựu giác sở tại chư nhân thi vi công sở hữu mộc nghệ chi lương năng, kỳ công công đức thiếp trạch thâm quảng vu dân.</p>
<p style="text-align: justify;">Công đắc khu dân ái mộ như phụ mẫu chi sinh thành. Hữu nhất nhật khu nội xổ lão ông tựu công sở cư chi xứ dữ du, công toại đồng bỉ lão nhân tửu trà lạc thư. Tại tịch thượng công bất tư đáo Diêm La tiền nhật đương giới nhi uẩn khúc nhất nhất ngôn hoàn, hốt nhiện tự hữu hắc phong nhất đạo tống lai, công toại đảo ngọc hôn trầm bất tri nhân sự nhi chí yếm trần hỹ. Thời đương Lý Thái Tổ, Thuận Thiên Kỷ Mùi niên tứ nguyệt sơ lục nhật, hưởng thọ bát thập nhất tuế. Công chi tử tôn dữ khu nội chư nhân hội luận an táng chi sự, nhất giai đồng từ tương linh cữu hạ thuyền hồi táng tại cố quán chi Xương Bồ sơn lộc lộc diện hướng  sơn thần cựu miếu.</p>
<p style="text-align: justify;">Sự tất, Thiết Lâm khu nhân dân dĩ sự thượng tấu, đắc triều đình tứ tôn hiệu vị Lão La Đại Thần Tiên Sư, hựu cải Thiết Lâm khu vi Ninh Xá tự thử hỹ. Tái chuẩn kỳ khu dân đắc nghinh thần vị phối tự vu Hùng Triều nhị vương vị chi hạ, giai quốc nội chi công thần dã.</p>
<p style="text-align: justify;">Kim nhật Phan nhân hữu sự thủy lai ngoại quán, hốt ngộ xã nội chư phụ lão tụ thủ hội luận soạn tập Lão La Tiên Sư thần từ sự tích. Chư lão ngôn viết:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Từ nội tiền nhật bản hữu phả chí, tích niên bị Thanh triều binh mã đáo thử địa phương thời tàn phá nhi phả tòng thất khứ, dĩ luận sự hựu tái tam luân sự, lão hựu kế hào chí kim diệc nhi vi quả, tư hạnh ngộ đại nhân lai quán thỉnh trợ thành chi.</p>
<p style="text-align: justify;">Phan viết:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Sự sở dương vi, khả vi chi, nhiên thỉnh hướng ngã tái chí từ tham khán thiểu thời.</p>
<p style="text-align: justify;">Ký nhi hựu tuế lịch Triều thị, Liêu viên chư thổ phụ. Hồi từ Phan thủy cảm viên bút tả xuất sở mục kiến nhĩ văn chi sự. Phục vong sáng tạo công nghệ tiên thánh tòng cao ứng giám đại xá Phan chi sở sự nhĩ.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực vạn lại đại đức chi âm phù hỹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Hoàng triều Tự Đức nhị thập nhị niên, tứ nguyệt cát nhật.</p>
<p style="text-align: justify;">Đại An huyện, Tri huyện, An Giang Bá Lê Huy Phan cẩn chí.</p>
<p style="text-align: justify;">Dịch nghĩa:</p>
<p style="text-align: justify;">Ông họ Ninh, tên húy là Hữu Hưng, người xã Chi Phong, tổng Trường Yên, huyện Gia Viễn. Từ thuở nhỏ vốn là người hiếu học lại có vũ dũng. Lớn lên nối tiếp cha ông làm nghề thợ mộc có nhiều sáng tạo trong nghề nên trong vùng ai cũng đều tôn phục. Vợ ông người trong xã có đức hiền thục cũng giúp ông được nhiều việc trong nghề.</p>
<p style="text-align: justify;">Một hôm hai vợ chồng ông đi thuyền tới miếu sơn thần tế lễ. Xong việc khi về nhà cơm nước rồi đi ngủ được một lúc lâu bỗng có một người đầu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc bước vào trong cửa niềm nở chào hỏi rồi dẫn ông tới một cái hang to sâu không biết đến chừng nào. Ở bên cửa hang có hai lực sỹ dẫn ông đi tiếp đến một nơi đền gác nguy nga, bạc vàng chói lọi rồi hai lực sỹ ấy quay trở lại. Lại một vị khác mặc áo bào xanh ra dẫn ông vào trong điện. Tòa điện có tên là Kim Quang này quả ở cõi dương thế chưa hề có. Ông liếc qua thấy rõ, nhưng chỉ phủ phục trước bệ không dám nhìn lên.</p>
<p style="text-align: justify;">Diêm Đế cất tiếng vàng sang sảng hỏi:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Trẫm nghe nhà ngươi ở cõi dương gian có nghề mộc giỏi nên mới tìm ngươi xuống đây giúp việc cho trẫm, chẳng hay ngươi nghĩ thế nào?</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Ninh tâu:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Vạn tuế! Nếu kẻ hạ dân thấp hèn này được thánh thượng hạ cố thì đâu không dám hết lòng.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế rồi ông được dẫn tới một gian nhà trong dãy xưởng mộc đầy người. Ông được giao công việc chế dựng cung điện, ông tuân theo và cùng các vị trong đó làm việc. Tại đó có nhiều người giỏi nghề, ông Ninh chăm chú theo dõi học hỏi và cũng đem cách thức dựng nhà cửa của mình kết hợp. Ít lâu sau, ông nhớ nhà bèn đến trước bệ tâu bày nỗi niềm xa cách quê hương xin trở lại Dương gian.</p>
<p style="text-align: justify;">Diêm đế đồng ý nhưng dạy rằng:</p>
<p style="text-align: justify;">– Nhà ngươi trở về, trẫm cho đem theo nghề về làm để sinh sống, nhưng không được tiết lộ nghề ở đâu mà ra. Nếu trái lời thì nhà ngươi sẽ không sống được vì hiện đã có một con dao nhỏ trong cổ hầu nhà ngươi rồi đó.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Ninh tuân lời, bái tạ rảo bước ra về. Khi ông tỉnh lại thì sự việc đã quá ba ngày rồi. Người nhà xúm lại hỏi thăm nhưng ông không nói gì cả., chỉ kêu mệt mà thôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông Ninh sống bằng nghề đó ngày một khá giả. Trong vùng nhiều người tìm đến theo học. Vì thế vùng này dần trở nên đông đúc.</p>
<p style="text-align: justify;">Tới khi Đinh Tiên Hoàng đế thống nhất đất nước, định đô tại thành Hoa Lư, ông được nhà vua triệu ra xây dựng các cung điện nơi vua ngự. Ông được dịp thi thố tài năng và vì vậy được vua ban cho chức ” Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân”</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi Lê Đại Hành đánh thắng quân Tống  lại cho xây dựng cung thất. Ông lại được trọng dụng như xưa. Một ngày trong lúc đất nước thanh bình, vua nghĩ nên khuyến khích việc cày cấy nông trang. Do ông Ninh có vũ dũng hơn người nên được chọn đi theo xa giá vua. Lúc trở về đỗ thuyền ở Thiết Lâm, vua lên bờ ghé vào ngôi đền thờ Lương Bình Vương thấy nơi đây miếu cổ lạnh lùng dưới bóng dương tà, tường vách xiêu vẹo, rêu xanh phủ lên ẩm ướt. Xúc cảnh sinh tình, vua cho ông ở lại dốc sức tu sửa đền thờ. Bấy giờ là năm Tân Mão  tháng 4 ngày 24 (ngày 9 tháng 6 năm 991).</p>
<p style="text-align: justify;">Sau khi tu sửa đền thờ hai vương xong, ông lại được mệnh trên cho sửa lại ngôi chùa thờ Phật. Bởi vậy, chùa này có tên “Phúc Lê Tự” là lấy ý vua Lê kiến nguyên ban đầu có tên ấy vậy.</p>
<p style="text-align: justify;">Từ ấy, ông lưu cư ở đó. Ông khuyên con cháu,  họ hàng và mọi người khai khẩn đất hoang cày cấy. Ông còn đem tiền của chiêu mộ dân các nơi tụ hội lập ra trang ấp và dạy cho dân làm theo nghề mộc của mình. Công đức của ông thấm tới mọi người rất là sâu rộng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ông được dân trong vùng yêu mến, coi như bậc cha mẹ sinh thành. Một hôm có một số ông già trong vùng tới cùng ông rượu trà vui vẻ. Trong tiệc vui, ông không nhớ tới những điều năm xưa xuống cõi Diêm La nên đem  mọi bí mật  đầu đuôi nhất nhất kể ra. Bỗng nhiên một luồng gió đen thổi lại làm cho ông  ngã vật ra mê man bất tỉnh rồi dẫn đến việc ông chán cõi đời. Bầy giờ là triều vua Lý Thái Tổ, năm Kỷ Mùi (1019), niên hiệu Thuận Thiên, tháng 4, ngày 6, ông hưởng thọ 81 tuổi. Con cháu ông cùng mọi người trong vùng họp bàn việc an táng và thống nhất đem linh cữu ông xuống thuyền chở về nơi cũ, chôn ở chân núi Xương Bồ quay mặt về phía miếu sơn thần khi trước.</p>
<p style="text-align: justify;">Xong việc, dân chúng vùng Thiết Lâm đem việc tâu lên và được triều đình cho tôn hiệu là “Lão La Đại Thần Tiên Sư” và đổi tên Thiết Lâm thành Ninh Xá, chuẩn cho dân trong vùng rước thần vị phối thờ vào hàng dưới hai Vương (Lương Bình Vương và An Nhu Vương) lấy ý đều là công thần của đất nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Nay nhân Phan tôi có việc trở về quê ngoại, bỗng gặp các vị phụ lão trong xã đang tụ hội bàn việc biên tập sự tích Lão  La Đại Thần Tiên Sư. Các cụ nói:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Trong đền khi trước vốn có Thần phả, song năm xưa đã mất đi trong lần binh mã Thanh triều về tàn phá ở địa phương. Mọi người đã bàn nhiều lần về việc ấy, song từ đời này sang đời khác vẫn chưa làm được. Nay may gặp đại nhân, xin nhờ đại nhân giúp cho.</p>
<p style="text-align: justify;">Phan tôi đáp:</p>
<p style="text-align: justify;">&#8211; Việc đáng làm thì nên làm, nhưng xin cho tôi xem lại đền chút đã.</p>
<p style="text-align: justify;">Thế rồi tôi đi khắp các Triều thị, Liêu viên. Lúc trở về đền, Phan tôi mới dám cầm bút viết ra những điều tai nghe mắt thấy. Cúi trông vị tiên thánh sáng tạo nghề nghiệp đại xá cho tôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Thực muôn trông đức lớn âm phù vậy!</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày tốt, tháng 4, Niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869)</p>
<p style="text-align: justify;">Tri huyện huyện Đại An, tước An Giang Bá, Lê Huy Phan kính cẩn ghi việc.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Thôn La Xuyên và Lão La Đại Thần Ninh Hữu Hưng</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Từ Nam Định đi theo đường 10 khoảng 15 km đến ga Cát Đằng rẽ trái khoảng 300m là đến đình La Xuyên thuộc xã Yên Ninh huyện Ý Yên. Cùng với Ninh Xá Hạ và một số thôn khác thuộc xã Yên Ninh, vùng đất La Xuyên do Tướng quân Ninh Hữu Hưng lập ra vào thế kỷ X- XI.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuốn thần phả hiện lưu tại đình làng La Xuyên do Tiến sĩ Nguyễn Hoàn viết năm Cảnh Hưng thứ 10 (1749) cho biết lúc sinh thời Ninh Hữu Hưng đã học được bí kíp nghề mộc của vua Diêm La dưới địa phủ. Chính vì thế mà sau này nhân dân còn gọi ông là Lão La. Tên vùng đất La Ngạn sau đổi thành La Xuyên cũng từ đó mà ra đời để tưởng nhớ đến ông tổ đã có công chiêu tập nhân dân về đây mở mang trang ấp đồng thời truyền nghề sinh sống.</p>
<p style="text-align: justify;">Khi ông mất,  con cháu và dân làng đã đưa linh cữu về chân núi Xương Bồ- Ninh Bình an táng. Tưởng nhớ công lao của ông, các thôn làng do ông tạo dựng như La Xuyên, Ninh Xá Hạ đều lập đền thờ để tri ân công đức. Các sắc phong của các triều đình phong kiến sau này hiện còn lưu giữ phong ông là  Dinh điền quan Lão La đại thần.<br />
Đình La Xuyên được xây dựng theo hình chữ Đinh. Tòa tiền đường gồm 3 gian, cao 8m, được làm theo kiểu chồng diêm hai tầng tám mái. Hệ thống vì tại tiền đường được thiết kế theo phong cách chồng rường giá chiêng. Gánh đỡ các bộ vì là 4 hàng cột lim to khỏe, có đường kính 50 cm. Tại đây các cấu kiện gỗ như câu đầu, xà thượng, xà hạ, con rường đều được soi chỉ, điểm các hàng lá lật mềm mại. Tất cả kết hợp cùng những nét cổ kính, uy nghiêm.</p>
<p style="text-align: justify;">Toàn bộ khu di tích này nằm quay về hướng tây quanh là cánh đồng lúa.Các công trình phụ trợ ở đây như hồ nước, hệ thống nghi môn, vườn cây đều được bố trí hài hòa, phù hợp cảnh quan. Bao quanh khu di tích là hệ thống tường gạch, tạo nên một không gian hoàn chỉnh, khép kín.</p>
<p style="text-align: justify;">Nối tiếp tiền đường là trung đường và chính tẩm. Cũng giống như tiền đường, hai tòa này cũng được hoàn toàn bằng gỗ lim. Tại đây chính là nơi thể hiện rõ nét tay nghề tài hoa của các nghệ nhân La Xuyên. Các hình tượng con rồng, tứ quý, tứ linh… trên các cánh cửa, các bộ vì được chạm bong, chạm lộng với kỹ thuật gia công cầu kỳ, tỉ mỉ, sắc nét.</p>
<p style="text-align: justify;">Đình phủ La Xuyên không chỉ là nơi lưu giữ, thể hiện nét tài hoa của những nghệ nhân nơi đây mà còn lưu giữ, phát huy những nét truyền thống văn hóa làng nghề được thể hiện qua mỗi kỳ lễ hội được tổ chức từ ngày mồng 10 đến 15 tháng giêng hàng năm. Lễ hội không chỉ là dịp vui xuân, thưởng thức các trò chơi dân gian mà còn là cơ hội để những người con xa quê hương hòa mình vào những nét thuần phong mỹ tục quê hương, thể hiện tinh thần uống nước nhớ nguồn. Đặc biệt, trong lễ hội dân gian làng thường tổ chức các cuộc thi trình diễn các sản phẩm gỗ làm từ chính những người thợ trong làng. Cuộc thi không chỉ là dịp để những người thợ trao đổi, học tập kinh nghiệm của nhau mà còn là dịp quảng bá sản phẩm của làng nghề truyền thống, đúng như câu ca mà nhân dân lưu truyền:</p>
<p style="text-align: center;"><em>Giai nhân con cháu Cái Nành</em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Dẫu không khoa bảng cũng thành nghệ nhân</em></p>
<p style="text-align: justify;">Tạ Đình Huy(1474-1542) người Hà Nam, đỗ Tam giáp đồng Tiến sĩ, khoa Tân mùi, năm Hồng Thuận thứ 2 có viết 1 bài thơ ca ngợi Ninh Hữu Hưng như sau (Bản dịch thơ):</p>
<p align="center"><em>Lão La sinh ở đất Chi Phong</em></p>
<p align="center"><em>Gia truyền thợ mộc giỏi vô song</em></p>
<p align="center"><em>Dựng đô lập nước dâng nhiều mẹo</em></p>
<p align="center"><em>Khẩn đất thương dân cũng lắm công</em></p>
<p align="center"><em>Thầy dậy dân làng chăm thủ nghệ</em></p>
<p align="center"><em>Ông khuyên con cháu nếp thuần phong</em></p>
<p align="center"><em>Đừng như Phạm,Đỗ đời chê trách</em></p>
<p align="center"><em>Diêm Đế hiền thần chớ bảo không.</em></p>
<p style="text-align: justify;">Lão La Đại thần mất ngày 6 tháng 4 năm Kỷ Mùi (1019).</p>
<p style="text-align: justify;">Đã mười thế kỷ qua đi, từ nơi đây đã có rất nhiều nghệ nhân đến xây dựng cố đô Hoa Lư, kinh đô Thăng Long, Đông Đô, Huế và nhiều đình, đền, chùa, miếu, lăng, phủ ở mọi miền đất nước. Ngày nay dân làng vẫn ăn nên, làm ra, ấm no hạnh phúc nhờ nghề truyền thống chạm khắc gử, khảm trai của mình. Sập gụ, tủ chè của làng nổi tiếng khắp cả nước và nước ngoài, về độ bền, vẻ đẹp của các hoa văn, mảng khối, đường nét, gợi chất thơ từ nhiều điển tích cổ Phương Đông.<br />
Uống nước nhớ nguồn, hưởng bóng mát nhớ cây cao, dân các  làng La xuyên, Ninh xá đã nhiều năm sưu tầm, chỉnh lý, bổ xung tư liệu về tổ nghề. Họ đã góp nhiều tiền, của để tu bổ, tôn tạo đền thờ tổ nghề. Đền thờ có đôi câu đối ca ngợi  Lão La Đại Thần  Ninh Hữu Hưng:</p>
<p align="center"><em>“Mộc tượng giáo dân nguyên hữu ý</em><br />
<em>Kiến đô lập quốc sử lưu công”</em></p>
<p style="text-align: justify;">Hàng năm dân làng vẫn tổ chức lễ hội mùa xuân. Đặc biệt, họ đã tiến hành nghi thức “Kéo lửa để Khai Hội”. Sau hồi trống trang trọng, tưng bừng, một vị cao niên phát lệnh cho trai làng, kéo lạt giang cọ vào thanh gỗxoan ngâm, tạo nhiệt. Nhiệt truyền rồi làm cháy bùi nhùi rơm khô. Cụ già lấy ngọn lửa vừa phát sinh thắp hương cho cả làng làm lễ dâng hương. Sau đó chuyển bát hương lên kiệu rước.<br />
Bằng nghi thức “Kéo lửa Khai hội” nói trên, dân làng thành tâm tưởng nhớ đến sáng kiến tạo ra lửa của  tổ nghề Ninh Hữu Hưng, thưở xa xưa, giúp vua Đinh, vua Lê nuôi quân, đánh giặc, dẹp loạn, xây dựng. Họ cũng tôn vinh nghề truyền thống. Từ gỗ họ sẽ làm ra những mặt hàng thủ công mỹ nghệ như ngọn lửa mãi mãi cần thiết cho đời sống của con người. Nghi thức kéo lửa Khai Hội còn thắp lên niềm tin sâu xa vào Hạnh phúc Trường sinh của các làng nghề Ninh Xá Hạ, La Xuyên.</p>
<p style="text-align: justify;">Sau đây là phần phiên âm và dịch nghĩa của bản  Ngoc phả của Đình La Xuyên do Tiến sỹ Lê triều Nguyễn Hoàn viết vào năm 1749:</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Thiên tử Diêm la đại vương</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>dữ  Đinh Lê triều công thần lục phủ công tượng giám sát đại tướng quân ngọc phả cổ lục</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Càn chi đệ nhị bộ thượng đẳng thần</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Chấn chi đệ nhất bộ trung đẳng thần</strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Quốc triều Lễ bộ chính bản</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thiên tử Diêm la đại vương long đầu hổ mạch Thuấn mục Nghiêu my chính trực thông minh cai quản thập điện quyết ngục đoan hình dữ thiện quan đồng nhiệm khuyến thiện trừng ác tịnh thủy phủ tương tham bạt tụy siêu quần, công đức quân triêm ư tứ hải, thính thanh hiện sắc, ân uy phổ thế ư thập phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời cố Lê Đại Hành xuất trị vu Hoa Lư động, thủy khai chính thống kỷ cương kế Đinh Tiên Hoàng chi hồng cơ, thừa chư tiền nhân chi đại sự. Thử gian Bắc quốc Tống sư, bộ binh do Hầu Nhân Bảo bối tự Ung Châu tòng Lạng Sơn lai, thủy binh do Lưu Trừng tòng Bạch Đằng Giang nhập xâm thủ ngã cảnh. Lê Đế hoạn chi thân tự xuất quân cự tặc, binh thuyền sơ chí Dục Thúy sơn toàn phong bao trước thiên địa hối minh, thủy lãng suy cấn thăng thượng như sơn bất khả tiến khứ. Hốt nhiên Lê Đế vọng kiến tam long tự giang thượng tẩu nhập sơn cốc trung tức thiên khí tình quang, thủy bại bình kính. Đế cụ vấn phương dân, hữu nhân tấu viết: “ tự cổ thời sơn cốc trung bản tự, tam phủ hội đồng chi xứ tối hữu linh ứng!”. Đế toại hạnh đủ, khoảnh khắc gian hữu nhất bạch mã tùng cốc trung tẩu vu thủy thượng. Đế thuyền tòng chi chí Vọng Doanh huyện, Thiết Lâm khu nhi bất kiến hỷ.</p>
<p style="text-align: justify;">Tân Tỵ niên quý xuân, Tống sư đại bại, Đế hồi kinh  quá thử linh miếu xử phương diện trùng thiết miếu sở dữ tri điền  nhị mẫu tại sơn chi  tây nam dĩ quảng tuyên linh ứng chi sự dã.</p>
<p style="text-align: justify;">Thước  thuyền thời ngã quốc tại Gia Viễn huyện, Chi Phong xã bản thị nhất đại lâm mộc chi . . ,nhân yên hy thiểu, ngoại trừ sơn cao xổ xứ, giai thị tứ thời thường mang bạch thủy.  Chí Đinh đế khai tạo thử xứ toại thành thị tứ đa hội giang thuyền xuất nhập vãng lai trù phú. Gian tại Chi Phong xã hữu nhất nhân tính Ninh húy Hữu Hưng am tường mộc nghệ, kế tổ phụ chi gia truyền, đắc Diêm La chi bí thuật kinh dĩ phù Lê Đế quảng tạo Hoa Lư cung thất, tằng mông ban thưởng Lục phủ công tượng Giám sát đại tướng quân chức, công cao bổng hậu, hựu hữu võ lược phi phàm, đắc thượng tín trọng vi Thân vệ tướng quân nhiệm.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời ngã quốc thanh bình, đế tư khuyến nông chi sự, tằng đáo chư xứ tịch điền, Ninh công thường đắc đới tòng chi. Nhất nhật chí Vọng Doanh huyện, Thiết Lâm khu, Đế dữ công kiến thử xứ địa thế dị kỳ, tuy hữu tam ngũ gia thác lạc trụ tại giang biên, nhất nhị từ thanh đài phong ư dân thượng, diệc khả đình túc  du quan. Đế thượng ngạn nhập Hùng triều nhị vương từ chiêm bái, tiên xử Ninh công cư thử phổ Hoàng gia chi đại huệ, sáng thần miếu chi hoằng quy. Tự thử công lưu ư thử tầm tương tử tôn tông tộc di chí khẩn thổ canh vân kiến thành đại ấp. Lưỡng ngạn chư địa giai đắc công lưu tân tứ tiền chiêu dân nhân cư giáo dĩ canh tác thủ nghệ . . . . . gia thần nội ngoại chư dịch . . . . . hữu đắc Diêm Đế  ân huệ . . . . tạo từ sở nghinh Diêm Đế  . . tự Dục Thúy sơn hồi dữ nhị vương đồng … . .thời cung kính, cố thử từ danh viễn La tiền điện, lưỡng ngạn dân danh vi  La Ngạn trại. Chư phương dân lại cư y công phủ dưỡng giai dĩ Ninh tính cư thượng, cố Ninh gia ấp hữu danh vi thử nhĩ.</p>
<p style="text-align: justify;">Chí Lý Thái Tổ Thuận Thiên Kỷ Mùi niên  tứ nguyệt lục nhật, công miên thọ dĩ cao, chí bát thập nhất tuế lão nhược quy thần. Công chi tử tôn dữ khu nội chư y quang chi nhận tương linh cữu hồi bản hương Xương Bồ sơn hạ táng . . . . La đại thần nguyên, bản dân lập miếu ư thử xứ phụng tự dữ cung nghinh thần vị tựu Diêm đế từ phối tự, tứ thời hương hỏa truy tư.</p>
<p style="text-align: justify;">Chí Lê triều phục hưng Nguyên Hòa  Giáp ngọ niên, Lê Đế hạnh từ quan dân nghệ nghiệp, kiến kỳ hương dân phong tục thuần phác, mộc tượng tinh thông tiện đới ngũ nhân hồi kinh khai mộc phường chấn hưng thủ nghệ, hựu tri tự điền ngũ mẫu quảng tuyên tự sự, thả miễn cư dân thuế sai chư dịch, đắc chuyên phục sự dĩ tận kỳ thành. Cố lịch đại đế vương gia phong mỹ tự biểu dương công đức dữ thiên địa trường cửu vô cùng hỹ.</p>
<p style="text-align: justify;">Cảnh Hưng thập niên Lê triều tiến sỹ  Lan Khê  Nguyễn Hoàn cẩn  . . .</p>
<p>Dịch nghĩa:</p>
<p align="center"><strong>Ngọc phả cổ lục về</strong></p>
<p align="center"><strong>Thiên tử Diêm La đại vương</strong></p>
<p align="center"><strong>và Công thần triều Đinh, Tiền Lê chức Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân</strong></p>
<p align="center"><strong>Càn chi đệ nhị bộ thượng đẳng thần</strong></p>
<p align="center"><strong>Chấn chi đệ nhất bộ trung đẳng thần</strong></p>
<p align="center"><strong>Quốc triều Lễ bộ chính bản.</strong></p>
<p style="text-align: justify;">Thiên tử ở cõi Diêm La đầu rồng trán hổ, có mắt của vua Thuấn, lông mày của vua Nghiêu, sáng suốt ngay thẳng, cai quản 10 Điện, quyết tội giam ngục,  là vị thiện quan, khuyên thiện răn ác, giúp đỡ cho Thủy phủ, khác hẳn người thường, công đức bao trùm bốn biển, ân uy trải khắp mười phương.</p>
<p style="text-align: justify;">Xưa kia vua Lê Đại Hành đóng đô ở Hoa Lư, mở nền chính thống nối tiếp cơ đồ lớn lao của Đinh Tiên Hoàng đế, thừa hưởng sự nghiệp của tiền nhân tạo lập.  Vào thời đó, quân Tống từ phương Bắc bộ binh do Hầu Nhân Bảo từ Ung Châu theo đường Lạng Sơn, thủy binh do Lưu Trừng theo hướng sông Bạch Đằng cùng tiến vào xâm chiếm nước ta. Vua Lê Đại Hành thân đem quân chống giặc. Lúc thuyền đến núi Dục Thúy thì gặp gió xoáy nổi lên, trời đất tối tăm mù mịt, sóng to nguy cấp không sao tiến lên được. Bỗng nhiên vua nhìn thấy 3 con rồng từ trên sông bay vào trong hang núi, tức thì trời quang mây tạnh, mặt nước phẳng lặng như cũ. Vua truyền hỏi thổ dân. Có người tới tâu rằng:” ở hang núi này từ thời xa xưa đã thờ tam phủ rất là linh ứng”. Vua vào cầu đảo, lát sau có một con ngựa trắng từ trong hang núi chạy ra, chạy trên mặt nước như trên bờ vậy. Thuyền vua cứ theo ngựa trắng mà đi, khi đến khu vực Thiết Lâm thuộc huyện Vọng Doanh thì không thấy ngựa trắng đâu nữa.</p>
<p style="text-align: justify;">Cuối mùa xuân năm Tân Tỵ (981), quân Tống đại bại. Trên đường quay lại kinh đô, vua Lê Đại Hành cho địa phương tu sửa lại miếu thiêng và ban cho 2 mẫu ruộng ở phía tây nam núi để tuyên dương rộng rãi sự linh ứng của thần.</p>
<p style="text-align: justify;">Lại nói nước ta thuở xưa, tại vùng đất xã Chi Phong huyện Gia Viễn bây giờ, vốn là một vùng cây to rậm rạp, dân cư thưa thớt, trừ một số nơi núi cao ra còn lại toàn một vùng 4 mùa nước ngập trắng xóa. Tới thời vua Đinh mở nước, nơi này mới trở nên vùng thị tứ dân cư đông đúc, thuyền bè qua lại tấp nập. Lúc đó, tại xã Chi Phong có một người họ Ninh, tên là Hữu Hưng giỏi về nghề mộc do nối tiếp được nghề gia truyền của cha ông và học được bí thuật nơi địa phủ. Ông đã giúp vua Lê xây cất cung điện tại Hoa Lư, được vua ban cho chức Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân, công cao lộc lớn. Ông lại có võ lược hơn người thường được vua tin dùng, thường làm nhiệm vụ Thân vệ tướng quân bảo vệ nhà vua.</p>
<p style="text-align: justify;">Nước ta thuở đó thanh bình, vua nghĩ đến việc khuyến khích nghề nông, ngài thường đi các nơi tuyên truyền mở mang ruộng đất. Ông Ninh thường xuyên được đi theo vua. Một ngày kia, tới khu Thiết Lâm thuộc huyện Vọng Doanh, nhà vua thấy nơi đây thế đất rất đẹp, dẫu chỉ có lác đác dăm ba căn nhà bên sông, vài nơi thờ tự rêu phong che phủ nhưng cũng đủ để dừng chân ngoạn thưởng. Vua bèn lên bờ đến chiêm ngưỡng đền thờ 2 vị Vương thời vua Hùng. Sau đó, nhà vua cho ông Ninh ở lại nơi này để truyền ân lớn của Hoàng gia, mở rộng quy mô ngôi thần miếu. Từ đó ông định cư tại nơi này, dần đem con cháu họ hàng đến đây mở đất cấy cày, dựng thành ấp lớn. Vùng đất 2 bên bờ sông thì ông bỏ tiền chiêu dân tụ hội, khuyến khích canh nông và phát triển thủ công, hỗ trợ nhau chế tác các đồ dùng cần thiết. Ông nghĩ xưa kia nhờ ơn huệ của Diêm Vương nên sai người mở rộng nơi thờ, rước chân nhang Diêm Đế từ núi Dục Thúy về thờ chung cùng với 2 Vương. Vì vậy mà đền thờ này có tên là La Tiền Điện. Hai bên bờ sông đặt là trại La Ngạn. Dân các nơi nhờ ơn ông nuôi dưỡng đều lấy họ Ninh ở đầu, vì thế khu này còn có tên là Ninh Gia ấp.</p>
<p style="text-align: justify;">Vào triều vua Lý Thái Tổ niên hiệu Thuận Thiên  năm Kỷ Mùi (1019) ngày 6 tháng 4, do già yếu mà ông về thần thọ 81 tuổi. Con cháu ông và mọi người đã đưa ông về an táng ở dưới chân núi Xương Bồ. Nơi ông mới tới ở tục gọi là cồn Lão La. Địa phương cũng dựng miếu thờ và cung kính rước thần vị ông phối thờ trong đền Diêm Đế để 4 mùa nhang khói tỏ lòng tưởng nhớ lâu dài.</p>
<p style="text-align: justify;">Thời nhà Lê trung hưng, niên hiệu Nguyên Hòa năm Giáp Ngọ (1534), vua Lê (Trang Tông) có qua làng xem dân làm nghề. Nhà vua thấy phong tục nơi đây thuần phác, nghề nghiệp tinh thông bèn đem 5 người về kinh đô mở rộng chấn hưng nghề mộc. Nhà vua còn cho 5 mẫu ruộng cung đốn cho việc nhang khói, miễn sưu thuế tạp dịch cho địa phương để chuyên việc thờ phụng. Qua các đời đế vương, đều được gia phong mỹ tự tán dương công đức cùng với trời đất mãi mãi không cùng.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngày tốt đầu tháng 2, niên hiệu Cảnh Hưng năm thứ 10 (1749)</p>
<p style="text-align: justify;">Tiến sỹ triều Lê là Lan Khê Nguyễn Hoàn kính cẩn ghi việc.</p>
<p><a href="http://anonasurf.com/browse.php?u=aMSdQzllFzjOQ%2Bcsqkwo72HwEFEz1Dw5Ge65MrEdmg8XWBCqg5rUvieq4G7RrwvfIDBO&amp;b=29#cite_note-2" target="_blank" rel="noopener">Xem thêm trong Wikipedia</a></p>
<p>&nbsp;</p>
<p><strong>Ninh Quang Thăng</strong></p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ninh-huu-hung-939-1019/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ninh Tốn (1744-1795)</title>
		<link>https://honinh.com/ninh-ton-2/</link>
					<comments>https://honinh.com/ninh-ton-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 09:35:51 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=1924</guid>

					<description><![CDATA[Cụ tổ Ninh Tốn (1744-1795) hiệu Chuyết Am, Mẫn Hiên, Chuyết Am Cư Sỹ, Song Am Cư Sĩ và tự là Hy Chí, Khiêm Như, người xã Côi Trì huyện&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Cụ tổ Ninh Tốn (1744-1795) hiệu Chuyết Am, Mẫn Hiên, Chuyết Am Cư Sỹ, Song Am Cư Sĩ và tự là Hy Chí, Khiêm Như, người xã Côi Trì huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cụ là danh nhân văn hóa có tên trong Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam. Tại Thành phố Ninh Bình, Thị trấn Tam Điệp, Thị trấn Củ Chi (thành phố Hồ Chí Minh) đều có đường phố mang tên Cụ.<br />
Cụ trước khi thi đỗ đã được tuyển dụng làm quan tại triều, giữ chức Hiệu thảo Thiêm sai Tri Công phiên. Sau giữ các chức Tri Binh phiên phụng Tá quân hải lộ, Tri Binh kiêm Toản tu Quốc sử, Quốc luật, Đông các Đại học sĩ, Thự Hữu Thị lang Bộ Hình, Hiệp trấn đạo Thuận Quảng, Tham tri chính sự kiêm Bồi tụng Tham tán quân vụ. Thời Tây Sơn, cụ giữ các chức Hàn lâm Trực học sĩ, Thượng thư Bộ Binh, tước Trường Nguyên bá.</p>
<p style="text-align: center;"><strong>VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU TUẤT </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>NIÊN HIỆU CẢNH HƯNG NĂM THỨ 39 (1778)</strong></p>
<p>Nước nhà hưởng thái bình trường cửu, văn vận đại hanh thông.</p>
<p>Hoàng thượng kế thừa mưu lược rộng xa, thụ hưởng phúc lành to lớn. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư Tĩnh vương] chấn chỉnh đất trời, mở rộng trị bình giáo hoá. Mùa xuân năm Mậu Tuất thi Hội cho các cống sĩ trong nước. Phó Đô tướng Thự Phủ sự Thiếu phó Nghiêm Quận công Trịnh Miên làm Đề điệu, Nhập thị hành Tham tụng Binh bộ Tả Thị lang Liên Khê hầu Vũ Miên làm Tri Cống cử, Đông các Học sĩ Phạm Bá Ưng quyền Giám thí.</p>
<p>Qua bốn trường lấy bọn Ninh Tốn 4 người trúng cách. Sang tháng sau Điện thí, ban cho bọn Nguyễn Duân đều đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Lại sai khắc tên vào bia đá để lưu truyền bất hủ.</p>
<p><strong><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân</em></strong>, 4 người:</p>
<p><strong>NGUYỄN DUÂN </strong>阮 昀1 người xã Phật Tích huyện Tiên Du. Đỗ Tứ trọng2 khoa Mậu Tý, Tham nghị, thi đỗ năm 43 tuổi, Khoa trưởng.</p>
<p><strong>CHU DOÃN MẠI </strong>朱 允 勱3 người xã Dục Tú huyện Đông Ngàn, Tri huyện, thi đỗ năm 39 tuổi.</p>
<p><strong>PHẠM TRỌNG HUYẾN </strong>范 仲 烜4 người xã Dũng Quyến huyện Ý Yên, đỗ năm 33 tuổi, Thiếu tuấn.</p>
<p><strong>NINH TỐN </strong>寧 遜5 người xã Côi Trì huyện Yên Mô, đỗ Tứ trọng năm Canh Dần, năm Ất Mùi tiến triều, được bổ chức Thiêm sai Tri Công phiên, Hàn lâm viện Hiệu thảo kiêm Quốc sử Toản tu, thi đỗ năm 35 tuổi, Hội nguyên.</p>
<p>Bia dựng ngày đầu tháng mùa xuân năm Canh Tý niên hiệu Cảnh Hưng thứ 41 (1780).</p>
<p>Tiến sĩ khoa Quý Hợi, Hữu tư giảng Tham tụng quốc lão Phụ đức công thần Thượng thư Bộ Lại kiêm Tri Đông các, trí sĩ khởi phục thái tể Viện Quận công Nguyễn Hoản6 vâng sắc soạn.</p>
<p><em>Chú thích:</em></p>
<p>1. Nguyễn Duân (1736-?) người xã Phật Tích huyện Tiên Du (nay là xã Phật Tích huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh). Ông là cháu nội Nguyễn ĐứcÁnh, con Nguyễn Đức Vĩ và làm quan Hàn lâm viện Thị chế, Đốc đồng Kinh Bắc.</p>
<p>2. Tứ trọng: Ở Quốc tử giám mỗi tháng học quan cho thi một kỳ “Tiểu tập” để khảo hạch các học trò, tháng giữa quý quan giám khảo cho thi “Đại tập” để khảo các học trò. Ai thi bốn kỳ đều trúng tuyển, gọi là đỗ “Tứ trọng”, được giám khảo đứng ra bảo cử thì được Bộ Lại bổ dụng.</p>
<p>3. Chu Doãn Mại (1740-?) người xã Dục Tú huyện Đông Ngàn (nay là xã Dục Tú huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm viện Đãi chế, Quốc tử giám Tuỳ giảng, Đông các Hiệu thư. Nhà Lê mất, ông không làm quan với Tây Sơn. Có tài liệu ghi ông là Chu Doãn Lệ.</p>
<p>4. Phạm Trọng Huyến (1746-?) người xã Dũng Quyết huyện Ý Yên (nay thuộc xã Yên Phú huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hàn lâm viện Thị chế, Tri Hộ phiên, Hàn lâm Thị thư.</p>
<p>5. <strong>Ninh Tốn</strong> (1744-1795) hiệu Chuyết Am, Mẫn Hiên, Chuyết Am Cư Sỹ, Song Am Cư Sĩ và tự là Hy Chí, Khiêm Như, người xã Côi Trì huyện Yên Mô (nay thuộc xã Yên Mỹ huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình). Ông trước khi thi đỗ đã được tuyển dụng làm quan tại triều, giữ chức Hiệu thảo Thiêm sai Tri Công phiên. Sau giữ các chức Tri Binh phiên phụng Tá quân hải lộ, Tri Binh kiêm Toản tu Quốc sử, Quốc luật, Đông các Đại học sĩ, Thự Hữu Thị lang Bộ Hình, Hiệp trấn đạo Thuận Quảng, Tham tri chính sự kiêm Bồi tụng Tham tán quân vụ. Thời Tây Sơn, ông giữ các chức Hàn lâm Trực học sĩ, Thượng thư Bộ Binh, tước Trường Nguyên bá.</p>
<p>6. Nguyễn Hoản:Xem chú thích 6, Bia số 69.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ninh-ton-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ninh Ngạn (1715 – 1781)</title>
		<link>https://honinh.com/ninh-ngan-2/</link>
					<comments>https://honinh.com/ninh-ngan-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 09:34:39 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=1922</guid>

					<description><![CDATA[Cụ tổ Ninh Ngạn (1715 – 1781) là người có công khai hoang lập ấp ở xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cụ đi thi Hội không&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Cụ tổ Ninh Ngạn (1715 – 1781) là người có công khai hoang lập ấp ở xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cụ đi thi Hội không đỗ, bèn đem sở học viết thành bộ sách Vũ Vu thiển thuyết, chú tâm dạy học, đem điều nghĩa cổ vũ Văn hội, đặt lệ nuôi các bậc kỳ lão, đề xuất việc khẩn hoang, vạch ra cương giới ruộng đồng, mở chợ xây cầu gây dựng phúc ấm cho hương thôn.<br />
Cụ là em của Ninh Địch và là cha của Ninh Tốn.</p>
<p><strong>Giới thiệu</strong></p>
<p>Bia Vũ Vu thiển thuyết khắc hẳn cả một cuốn sách của Ninh Ngạn, mà người chép sách vào đá rồi thuê thợ khắc là Ninh Tốn, con trai của Ninh Ngạn. Ninh Ngạn (1715 – 1781) là người có công khai hoang lập ấp ở xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Ông đi thi Hội không đỗ, bèn đem sở học viết thành bộ sách Vũ Vu thiển thuyết, chú tâm dạy học, đem điều nghĩa cổ vũ Văn hội, đặt lệ nuôi các bậc kỳ lão, đề xuất việc khẩn hoang, vạch ra cương giới ruộng đồng, mở chợ xây cầu gây dựng phúc ấm cho hương thôn. Ninh Ngạn là một tấm gương về hiếu đễ. Khi anh trai mất, ông đứng ra nuôi dạy các em nên người, thờ cha mẹ một lòng hiếu kính. Vợ mất sớm, ông nuôi dạy con chu toàn.</p>
<p>Tác phẩm Vũ Vu thiển thuyết của Ninh Ngạn được con trai là Ninh Tốn dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 42 (1781), tức là ngay sau khi cha mất, hiện đặt tại nhà thờ họ Ninh ở xã Yên Mỹ, huyện Tam Điệp tỉnh Ninh Bình. Văn bia gồm 2 phần. Phần 1 là lời dẫn ghi lại sự nghiệp của Ninh Ngạn và tác phẩm của ông.</p>
<p>Bài văn có đoạn: “Tốn tôi vâng lời di huấn của cha, thẹn nỗi chưa làm theo được hết, bèn tự tay chép sách của Người vào đá rồi thuê thợ khắc để chỉ bảo cho đám con cháu muốn dốc lòng cầu đạo”…</p>
<p>Phần 2 khắc toàn văn bộ sách gồm 2 quyển thượng, hạ, gồm 45 chương sách. Trong đó có các chương 1 và 2 bàn về chữ hiếu, cách đánh giá về hiếu và bất hiếu; chương 3 bàn về quan hệ giữa nuôi và dạy con cái trong gia đình; chương 6 và 7 bàn về quan hệ vợ chồng; chương 8 và 9 bàn về Nhân và Tín; chương 10 bàn về đạo làm người; chương 12 bàn về ba loại “tâm bệnh” là giầu, sang và thọ; chương 13 bàn về việc phải coi điều thiện làm thầy, thấy ai có điều thiện, dù là kẻ dưới đều nên coi là thầy mà học; chương 29 và 30 bàn về việc làm điều tốt không cốt ở tiếng khen, đánh giá người phải xét ở lời nói và việc làm; chương 31 và 32 bàn về việc lập đức, lập thân và lập danh; chương 33 và 34 chuyên bàn về những điều cần tránh như rượu chè, cờ bạc, sắc dục, lười biếng, nói năng khinh xuất; chương 39 và 40 bàn về sống – chết, vinh – nhục ở đời…</p>
<p>Những thăng trầm của lịch sử đã trôi theo tháng năm. Đã sang thế kỷ 21, một thiên niên kỷ mới với bao thay đổi về quan niệm sống và hành xử, tác động không nhỏ tới mỗi gia đình và dòng họ, song những lời vàng trên đá mà người xưa trao lại vẫn rạng ngời đạo lý Việt Nam. Cùng với 51 quyển sách gia huấn hiện đang tàng trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm và rất nhiều bản gia huấn đang được các gia đình, gia tộc gìn giữ sẽ góp phần vào việc tìm hiểu nhiều mặt về giáo dục trong gia đình truyền thống ở Việt Nam thời trước.</p>
<p>Ngày nay, tiếp thu chắt lọc những nét đẹp nhân văn của những đạo lý mà tổ tiên đã dạy, xây nền đạo đức mới trên nền nhân đức của cha ông mãi mãi là một việc đáng suy ngẫm và cần thiết của gia đình và xã hội Việt Nam hôm nay và mãi về sau.</p>
<p><strong>Một số tác phẩm </strong></p>
<p>Khu đồi Vải rộng khoảng 30 ha, nằm trên một cao nguyên đất đai màu mỡ giữa vùng núi non trùng điệp cách thị xã Tam Điệp 7 km về phía đông nam.</p>
<p>Nhân dân trong vùng đã phát hiện nhiều phiến đá có khắc chữ, nhô lên mặt đất khu đồi này. Có tấm chỉ khắc hai chữ như “Ngọc tỉnh”, “Long tỉnh. . . ” . Đáng chú ý là tấm bia ghi hai bài thơ của Ninh Ngạn (Hiệu Dã Hiên) – Hy Tăng cư sỹ do con trai của ông là Đông các Đại học sỹ Ninh Tốn khắc năm Tân Sửu (1781).<br />
Nhờ bài thơ mà chúng ta được biết đồi Vải xưa có tên là bãi Vũ Vu (Vũ Vu nguyên), nơi Hy Tăng cư sỹ ở ẩn và viết hai tác phẩm là <em>Phong vịnh tập</em> và <em>Vũ Vu thiên thuyết.</em> Phía bên phải hồ mùa thu gần đó, có vùng đất gọi là “Trại cụ Thượng”, nơi tiến sỹ Ninh Tốn ở ẩn, giữ lòng “cố trung” với nhà Lê.</p>
<p>Dưới đây là phần phiên âm và dịch lời hai bài thơ đó.</p>
<p><strong><em>Phiên âm:</em></strong></p>
<p>Viện xứ cổ hiệu Vũ Vu nguyên. Cảnh Hưng trung, Cối Trì, Cán thôn Thị độc Hy Tăng tiên sinh ẩn cư nguyên thượng xướng minh lý học, dĩ đại hiền tự kỳ sở trước thư, hữu <em>Vũ Vu thiển thuyết,</em> cập <em>Phong vịnh tập.</em> Tân Sửu mộ xuân, kế thế đích nam Đông các đại học sĩ Ninh Tốn nhân tức sở cư lập miếu. Nhi bức khắc kỳ nhị thi vu thạch.</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Kỳ nhất</strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Ngã ái Vũ Vu thú.<br />
</em><em>Xuất du thừa kiên xa.<br />
Quần sơn tu cực hảo,<br />
Vạn thụ hiến tân hoa.<br />
Tâm hạ sinh phật ấn,<br />
Nhãn trung kiến Thái Hoà.<br />
Vũ tễ tuyền do sắt.<br />
Phong cao thử bất ba;<br />
Toạ đối thạch sơn ngữ,<br />
Ngoạ thính sơn điểu ca.<br />
Thần di tâm diệc khoáng,<br />
Phú quý như ngã hà?</em><br />
Vũ Vu Nguyên</p>
<p><strong><em>Tạm dịch</em></strong><em>:</em></p>
<p>Chốn này xưa là bãi Vũ Vu. Trong năm Cảnh Hưng, Thị độc Hy Tăng tiên sinh, người thôn Cán, xã Côi Trì, ẩn ở trên bãi, nghiên cứu rõ môn lý học, noi theo bậc hiền triết, từ chốn này viết sách <em>Vũ Vu thiển thuyết</em> và <em>Phong Vịnh tập.</em> Cuối mùa xuân năm Tân Sửu (1781), con trai nối dõi là Đông Các đại học sỹ Ninh Tốn, nhân chỗ ở cũ, dựng nhà thờ và khắc ngay vào đá hai bài thơ của Người.</p>
<p style="text-align: center;"><strong>Bài một</strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Ta yêu cảnh Vũ Vu,<br />
Trên cáng đi ngao du.<br />
Cây biếc rừng hoa mới,<br />
Núi khoe mầu đẹp xưa.<br />
Dấu Phật trong lòng?<br />
Thái hoà trược mặt phô.<br />
Gió cao đồng lặng sóng,<br />
Mưa tạnh uốn gieo đàn.<br />
Ngồi ngắm đá núi nói,<br />
Nằm nghe chim rừng ca.<br />
Thảnh thơi lòng rộng mở,<br />
Giàu sang hơn gì ta.<br />
Bùi Vũ Vu.</em></p>
<p><strong><em>Phiên âm:</em></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Kì nhị</strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Vũ Vu hà hữu?<br />
Hữu tuyền hữu sơn.<br />
Tuyền viết Long Tỉnh.<br />
Sơn viết Kê Quan.<br />
Hữu viết Lả Mát,<br />
Hữu viết Thiên Quan.<br />
Viết tư, viết Cầu<br />
Thổ sơn hồi hoàn.<br />
U kỳ thắng trí.<br />
Khả thích du quan.<br />
Hy tăng cư sĩ,<br />
Vu thử bàn hoàn,<br />
Đắc tâm ưng mục<br />
Đàn bất lương nan.<br />
Diện đối tiên phong hề, vô thướng ngôn chi lạc.<br />
Tràng trung khúc thuỷ hề, hữu nhất thổ chi hoan<br />
Kinh cứu vị khử hề tiễn kinh cức;<br />
Chi lan chính mậu hề chủng chi lan.<br />
Hứng lai sách cú,<br />
Thời chí vấn san,<br />
Trần hiếu bất năng mỗi,<br />
Danh lợi bất tương can.</em></p>
<p style="text-align: center;">Vũ Vu cư sĩ Ninh Hy Tăng lãng ngâm vịnh</p>
<p><strong><em>Tạm dịch:</em></strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>Bài hai</strong></p>
<p style="text-align: center;"><em>Vũ Vu có gì?<br />
</em><em>Có suối có non.</em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Suối tên Long Tỉnh,</em></p>
<p style="text-align: center;"><em>Non tên Kê Quan<br />
Có khe Lả Mát,<br />
Có đền Thiên Quan,<br />
Hòn Cầu, hòn Cốc<br />
Đồi đất quây quần.<br />
Vẻ thanh dáng đẹp<br />
Tha hồ du quan.<br />
Hy tăng cư sĩ,<br />
Vấn vương bàn hoàn,<br />
Thoả lòng ưng mắt,<br />
Nối bao cung đàn.<br />
Trước mắt ngắm non tiên mộng dân lời tắt hẳn,<br />
Trong lòng nghe suối cuộn, riêng một cõi vui tràn,<br />
Gai góc chưa sạch chừ, chặt phăng gai góc;<br />
Chi lan đang tốt chừ, trồng thêm chi lan.<br />
Hứng lên ngâm vịnh,<br />
Đến bữa tìm ăn.<br />
Bụi bặm xa chẳng vướng,<br />
Danh lợi mặc không bàn.</em></p>
<p style="text-align: center;">Vũ Vu cư sĩ Ninh Hy Tăng ngâm vịnh.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ninh-ngan-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ninh Địch (1687 &#8211; 1734)</title>
		<link>https://honinh.com/ninh-dich-2/</link>
					<comments>https://honinh.com/ninh-dich-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 09:32:36 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=1920</guid>

					<description><![CDATA[Cụ tổ Ninh Địch sinh năm 1687, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cụ đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Tuất,&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Cụ tổ Ninh Địch sinh năm 1687, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cụ đỗ Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 14 (1718), giữ chức quan Huấn Đạo.<br />
Cụ là bác của Ninh Tốn.</p>
<p style="text-align: center;"><strong>VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU TUẤT NIÊN HIỆU </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>VĨNH THỊNH NĂM THỨ 14 (1718)</strong></p>
<p>Kính nghĩ: Quốc triều thời tốt lành, sao Khuê soi vận thái. Thánh thiên tử tuổi trẻ khiêm nhường hành đạo, hòa vui tác thành nhân tài. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư An vương] có mưu lược lớn trị nước, theo trung đạo chọn dùng người hiền. Bèn vào mùa xuân năm Mậu Tuất thi Hội cho các cống sĩ trong nước. Sai Tá lý công thần Tiền hòa quân doanh Tây quân Đô đốc phủ Thự Phủ sự Thiếu phó Ứng Quận công Đặng Đình Tướng làm Đề điệu; Bồi tụng Ngự sử đài Đô Ngự sử Nhập thị Kinh diên thự Trung thư giám Cẩm Thượng nam Trương Công Giai làm Tri Cống cử, Bồi tụng Hộ bộ Tả Thị lang Tuần Thành nam Lê Anh Tuấn cùng Bồi tụng Lại bộ Hữu Thị lang Kế Vũ nam Nguyễn Mậu Áng làm Giám thí, cùng các quan hữu ty chia giữ các việc.</p>
<p>Bấy giờ sĩ tử dự thi hơn 3.000 người, lựa chọn hạng xuất sắc được 17 người. Ngày tháng 6 vào Điện thí, ban cho Vũ Công Tể đỗ Tiến sĩ cập đệ; Nguyễn Tuyền, Ninh Địch đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Lê Hữu Kiều 14 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Gọi loa xướng tên người thi đỗ. Quan Bộ Lễ rước bảng vàng ra treo ngoài cửa nhà Thái học. Sau đó ban áo mũ cân đai, cho dự yến Quỳnh hoa bạc, cho dựng nhà ở để được vẻ vang về làng. Lại theo lệ được ban chức tước, mưa móc như từ trời cao ban xuống, ơn nhuần rất mực long trọng. Việc khắc đá đề danh thì đã có lệ cũ, sai từ thần soạn bài văn để ghi việc thực.</p>
<p>Thần giữ chức soạn thuật, không dám lấy cớ vụng về nông cạn mà chối từ, kính cẩn cúi đầu rập dầu dâng lời rằng:</p>
<p>Tìm trong khoa mục là con đường bằng phẳng để lựa chọn nhân tài, mà gây dựng tiếng tăm thì cần nhất là ở lệ thường khuyến khích sĩ tử. Vái xem từ đời thánh triều lập quốc tới nay thường lấy khoa cử để khích lệ nho phong, mở mang văn trị. Ngước thấy ngày nay, thể chế quy tắc chặt chẽ, muốn có quả dưa to cũng phải lựa cả dây leo bìm bìm. Nhưng phép xét tuyển rất tinh, ơn đãi ngộ rất hậu, mà việc tạc đá khắc bia thì cốt nhất là để cho thanh danh lưu truyền mãi mãi. Kẻ sĩ được đăng tên vào tấm đá này thật là vinh hạnh biết bao! Vậy phải giữ tiết tháo cứng cỏi, giữ tâm chất thực chắc chắn, lấy chính trực trung hậu mà đứng giữa triều đình, lấy đạo đức nhân nghĩa mà giúp chúa, chẳng gỉ chẳng mòn, sừng sững như cột trụ ở miếu đường, làm nền tảng, làm ánh sáng, giữ yên xã tắc, công lao sự nghiệp không chỉ rạng rỡ ở đương thời mà phúc lộc còn truyền mãi muôn đời. Thế thì danh tiếng ấy cùng bia đá này sẽ lưu truyền hương thơm đến vô cùng vậy. Thảng hoặc có ai đó hành vi và lương tâm trái nhau, danh thực trái ngược, thì ngọc khuê có vết khó mài, tiếng nhơ khó giấu, công luận nghiêm xét, nghìn năm không quên, há chẳng nên cẩn thận ư?</p>
<p>Thần kính cẩn làm bài ký.</p>
<p>Mậu lâm lang Bồi tụng Hàn lâm viện Thị thư Vũ Công Tể vâng sắc soạn.</p>
<p>Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Bồi tụng Đông các Đại học sĩ Trù Phúc hầu Đinh Phụ Ích vâng sắc nhuận.</p>
<p>Bia dựng ngày 17 tháng 11 niên hiệu Bảo Thái thứ 2 (1721) Hoàng Việt.</p>
<p><strong><em>Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ</em></strong><em>, </em>1 người:</p>
<p><strong>VŨ CÔNG TỂ </strong>武公宰1 người xã Hải Bối huyện Yên Lãng, Hiến phó.</p>
<p><strong><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân</em></strong><em>, </em>2 người:</p>
<p><strong>NGUYỄN TUYỀN </strong>阮璿2 người xã Nỗ Bạn huyện Thanh Trì, trú quán thôn Văn Hội xã Văn Giáp huyện Thượng Phúc, Huấn đạo.</p>
<p><strong>NINH ĐỊCH </strong>寧迪3 người Xã Côi Trì huyện Yên Mô, Huấn đạo.</p>
<p><strong><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân</em></strong><em>, </em>14 người:</p>
<p><strong>LÊ HỮU KIỀU </strong>黎有喬4 người xã Liêu Xá huyện Đường Hào, Nho sinh trúng thức.</p>
<p><strong>NGUYỄN DANH HIỀN </strong>阮名賢5 người xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm, Giám sinh.</p>
<p><strong>NGUYỄN CÔNG VIÊN </strong>阮公垣6 người xã Vịnh Cầu huyện Đông Ngàn, Nho sinh trúng thức.</p>
<p><strong>NGUYỄN CẨM </strong>阮錦7 người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm, Tri huyện.</p>
<p><strong>TRƯƠNG HỮU THIỆU </strong>張有劭8 người xã Thiên Linh huyện Ngọc Sơn, Huấn đạo.</p>
<p><strong>LÊ NHƯ KỲ </strong>黎如琦9 người xã Yên Xá huyện Thụy Nguyên, Tri huyện.</p>
<p><strong>HÀ SÁCH DỰ </strong>何策譽10 người xã Yên Nhân huyện Đường Hào, Huấn đạo.</p>
<p><strong>DƯƠNG QUÁN </strong>楊灌11 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, Nho sinh trúng thức.</p>
<p><strong>NGUYỄN LỆNH NGHI </strong>阮令儀12 người xã Thanh Lâm huyện Thanh Lâm, Huấn đạo.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐÌNH BÁ </strong>阮廷伯13 người xã Nộn Hồ huyện Nam Đường, Huấn đạo.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐÌNH TOẢN </strong>阮廷纂14 người xã Văn Trưng huyện Bạch Hạc, Tham nghị.</p>
<p><strong>LÊ ĐĂNG TRUYỀN </strong>黎 登傳15 người xã Tiên Bào huyện Nghi Xuân, Nho sinh trúng thức.</p>
<p><strong>NGUYỄN QUỐC DỰC </strong>阮國翼16 người xã Hoa Cầu huyện Văn Giang, Giám sinh.</p>
<p><strong>TRẦN CẢNH </strong>陳璟17 người xã Điền Trì huyện Chí Linh, Nho sinh trúng thức.</p>
<p>Trung thư giám hoa văn học sinh người xã Phú Thị huyện Gia Lâm là Bùi Đình Kiên vâng viết chữ (chân).</p>
<p>Cẩn sự lang Kim quang môn Đãi chiếu Triện thích thái hàm Tự thừa Liêu Tường nam Nguyễn Đình Huy viết chữ triện.</p>
<p><em>Chú thích:</em></p>
<p>1. Vũ Công Tể (1687-1745) người xã Hải Bối huyện Yên Lãng (nay là xã Hải Bối huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông giữ các chức quan, như Hiến phó, Bồi tụng, Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại, tước Lãng Quận công. Sau khi mất, ông được tặng Thái bảo.</p>
<p>2. Nguyễn Tuyền (1687-1736) người xã Nỗ Bạn huyện Thanh Trì (nay thuộc xã Liên Phương huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây), trú quán xã Văn Giáp huyện Thượng Phúc (nay thuộc huyện Thường Tín). Ông giữ các chức quan, như Huấn đạo, Tả Thị lang Bộ Binh, Hữu Tư giảng, tước hầu. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Binh, phong tước Đại vương.</p>
<p>3. Ninh Địch (1687-?) người xã Côi Trì huyện Yên Mô (nay thuộc xã Yên Mỹ huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình). Ông là chú của Ninh Tốn và giữ các chức quan, như Huấn đạo, thăng Đông các Đại học sĩ.</p>
<p>4. Lê Hữu Kiều (1691-1760) hiệu là Tốn Trai , người xã Liêu Xá, huyện Đường Hào (nay thuộc xã Liêu Xá huyện Yên Mỹ tỉnh Hưng Yên). Ông là con của Lê Hữu Danh, chú Lê Trọng Tín và là cha của Lê Hữu Dụng. Ông giữ các chức quan, như: Tư vụ ở Bộ Hộ, quyền Hiến sát sứ Kinh Bắc, Hàn lâm viện Thừa chỉ kiêm Hữu Thị lang Bộ Công và được cử làm Phó sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc); thăng Tả Thị lang Bộ Công, tước Liêu Đình bá; thăng Đô đài, Thượng thư Bộ Công; rồi làm Tham tụng, Đốc trấn Thái Nguyên, Tham tri Nghệ An, Thượng thư Bộ Binh, Thượng thư Bộ Lễ, tước Liêu Đình hầu. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thiếu phó, tước Liêu Quận công.</p>
<p>5. Nguyễn Danh Hiền (1694-?) người xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm (nay thuộc phường Yên Hòa quận Cầu Giấy Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hiệu thảo.</p>
<p>6. Nguyễn Công Viên (1691-?) người xã Vịnh Kiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hiệu thư, Đốc đồng Cao Bằng.</p>
<p>7. Nguyễn Cẩm (1678-?) người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Bát Tràng huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông là em của Nguyễn Đăng Liên, trước đỗ khoa Sĩ vọng và giữ các chức quan, như Tri huyện, thăng Quốc tử giám Tế tửu. Sau khi mất, ông được tặng chức Phó Đô Ngự sử.</p>
<p>8. Trương Hữu Thiệu (1687-?) người xã Thiên Linh huyện Ngọc Sơn (nay thuộc huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa). Ông trước đỗ khoa Sĩ vọng, làm quan Huấn đạo, thăng Giám sát.</p>
<p>9. Lê Như Kỳ (1684-1772) người xã Yên Xá huyện Thụy Nguyên (nay thuộc xã Thiệu Thịnh huyện Thiệu Hóa tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tri huyện, thăng Tả Thị lang Bộ Hình, tước bá. Sau khi mất, ông được tặng chức Tả Thị lang Bộ Binh.</p>
<p>10. Hà Sách Dự (1682-?) người xã Yên Nhân huyện Đường Hào (nay là thị trấn Bần Yên Nhân huyện Mỹ Hào tỉnh Hưng Yên). Ông thi Hương đỗ Giải nguyên, làm quan Huấn đạo, thăng đến chức Giám sát Ngự sử.</p>
<p>11. Dương Quán (1687-?) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Giám sát.</p>
<p>12. Nguyễn Lệnh Nghi (1687-?) người xã Thanh Lâm huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Thịnh huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Huấn đạo, thăng đến Tả Thị lang Bộ Lại và được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc), nhưng bị mất trên đường đi. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Hình, tước Sách Quận công. Có tài liệu ghi ông là Đỗ Lệnh Nghi.</p>
<p>13. Nguyễn Đình Bá (1674-?) người xã Nộn Hồ huyện Nam Đường (nay thuộc xã Xuân Hòa huyện Nam Đàn tỉnh Nghệ An). Ông là cha của Nguyễn Đình Truyền, làm quan Huấn đạo, thăng đến Giám sát.</p>
<p>14. Nguyễn Đình Toản (1668-?) người xã Văn Trưng huyện Bạch Hạc (nay thuộc xã Tứ Trưng huyện Vĩnh Tường tỉnh Vĩnh Phúc). Ông con của Nguyễn Đình Sách, làm quan Tham nghị, thăng đến chức Tự khanh.</p>
<p>15. Lê Đăng Truyền (1683-?) người xã Tiên Bào huyện Nghi Xuân (nay thuộc xã Xuân Yên huyện Nghi Xuân tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Giám sát.</p>
<p>16. Nguyễn Quốc Dực (1693-?) người xã Hoa Cầu huyện Văn Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tham chính. Sau khi mất, ông được tặng chức Phó Đô Ngự sử.</p>
<p>17. Trần Cảnh (1684-1758) người xã Điền Trì huyện Chí Linh (nay thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương). Ông là con của Trần Thọ, cha Trần Tiến, làm quan Thượng thư Bộ Hình, tước Quận công và về trí sĩ. Sau lại được trọng dụng, làm quan Tham tụng, Thượng thư Bộ Lễ. Sau khi mất, ông được tặng hàm Thái bảo.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ninh-dich-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ninh Đạt (1618 &#8211; ?)</title>
		<link>https://honinh.com/ninh-dat-2/</link>
					<comments>https://honinh.com/ninh-dat-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 09:30:52 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Côi Trì - Trung Đồng]]></category>
		<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=1918</guid>

					<description><![CDATA[Cụ tổ Ninh Đạt sinh năm 1618, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cụ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Kỷ&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="box_content_layer_l">
<div class="box_content_layer_2">
<div class="boxgiua">
<div class="boxgiua_lop1">
<div class="boxgiua_lop2">
<p>Cụ tổ Ninh Đạt sinh năm 1618, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Cụ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sỹ xuất thân khoa Kỷ Hợi, niên hiệu Vĩnh Thọ năm thứ 2 (1659) đời vua Lê Thần Tông. Cụ làm quan Giám sát của 1 đạo, hàng tùng Tam phẩm.</p>
<p style="text-align: center;"><strong>VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA KỶ HỢI NIÊN HIỆU </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>VĨNH THỌ NĂM THỨ 2 (1659<em>)</em></strong></p>
<p>Kính nghĩ: Thần Tông Uyên hoàng đế lại lên ngôi báu đến nay đã 10 năm. Xem nhân văn biến đổi mà khôi phục quy mô giữ nước, đổi mới chế độ mà điển chương vẫn giữ phép xưa. Thực nhờ có Văn Tổ Nghị vương chăm chỉ thi hành đức sáng, mộng tưởng tìm chọn anh tài1. Bèn vào mùa xuân tháng 2 năm Kỷ Hợi sai các quan Đề điệu, Tri Cống cử, Giám thí thi Hội các sĩ nhân trong nước, chọn hạng trúng cách được bọn Lê Thức 20 người.</p>
<p>Mùa hạ tháng 4 vào Điện thí. Ban cho bọn Nguyễn Quốc Trinh 3 người đỗ Tiến sĩ cập đệ, bọn Mai Trọng Hòa 2 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Phạm Duy Chất 15 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Ban áo mũ cân đai để y phục đẹp đẽ, cho dự yến Quỳnh Lâm để tỏ ơn trọng hậu, rồi cho cưỡi ngựa vinh quy về làng, nêu cao lòng sủng ái.</p>
<p>Bấy giờ khanh sĩ làm quan tại triều, ấn thao tua mũ san sát đầu hồi chính điện; có người cầm ấn phù tiết việt đi trấn giữ một phương, nườm nượp răm rắp, trong ngoài gắng gỏi, đều là những người thi đỗ trong khoa này. Nhân tài như thế, há chẳng là thịnh hay sao!</p>
<p>Nhưng vì năm đó việc khắc đá đề danh vừa xong chưa kịp dựng thì có việc phải chờ lệnh mới, thế rồi lần lữa ngày tháng trôi qua, cho đến nay đã 58 năm, công việc vẫn còn bỏ dở. Muốn noi theo việc của tổ tông, làm cho đủ những việc đời trước còn thiếu, có lẽ còn phải đợi đến ngày nay vậy.</p>
<p>Nay mừng Hoàng thượng2 hết lòng trị nước, ưa chuộng văn chương, giữ gìn nếp cũ, lưu tâm nối chí noi việc, lấy tôn Nho trọng đạo làm việc hàng đầu. Thực nhờ [Đại nguyên súy Thống quốc chính Thượng sư An vương]3 chỉnh lý muôn việc, sửa sang văn giáo, hằng muốn khôi phục khuếch trương chế độ quốc gia, đủ đầy khuôn mẫu triều chính, để ngày nay theo đó làm căn cứ mà phù trì, đều nhờ có nhiều hiền tài chọn được trong các khoa thi Tiến sĩ đồng lòng phò tá kính giúp mới được thế. Nếu không phô trương thịnh điển, chấn tác văn phong, thì làm sao khích lệ được anh tài, nâng cao được sĩ khí ? Nhân lúc đến thăm nhà Thái học, Vương thượng bèn hăng hái xuống dụ: Phàm các khoa thi Tiến sĩ mà chưa bia khắc đều sai Bộ Công khắc đá, giao cho từ thần soạn bài ký để khắc bia.</p>
<p>Thần giữ chức soạn thuật, không dám lấy sự nông vụng chối từ, kính cẩn cúi đầu rập dầu dâng lời rằng:</p>
<p>Hoàng thiên mến giúp nước nhà tất sinh hiền tài để phò tá, bậc nhân quân cầu vời người giỏi ắt phải tìm chọn trong chốn khoa trường. Nếu sự tuyển chọn có phương, thu nạp kiếm tìm có hướng, thì trăm nghìn tài tuấn đều thuộc quyền vua sai, nguyện đem tài trí mưu mô giúp vua trị nước, đưa thế đạo ngang đời Đường Ngu cũng không phải là chuyện khó.</p>
<p>Kính nghĩ: Quốc triều thuận trời mở nước, vỡ đất dựng nền, chấn hưng việc võ, sửa sang việc văn, thi hành nhân đức, giảng dạy lễ nghĩa. Từ khi sáng nghiệp về sau đời đời truyền nối giữ gìn, khuôn phép quy mô chặt chẽ, khoan nới ân nghĩa dùng người, rộng đường kén chọn kẻ sĩ, nhân tài mây họp, mọi chức đủ đầy. Từ ngày Trung hưng đến nay thánh đế thánh vương tao phùng, đồng tâm hiệp đức, sùng chuộng văn hóa, chăm cầu hiền năng, tài tuấn chung hàng, dập dìu tiến bước. Được người đông đảo, có thể sánh đẹp vời đời Đường Ngu, mà có phần vượt hơn thời Triệu Tống vậy.</p>
<p>Nhất là ngày nay mưu lược lớn lao, thi triển rộng lớn, hiến chương chế độ rõ ràng, tưởng nhớ các bậc anh hiền xưa trợ giúp; bèn sai đem họ tên những người thi đỗ khoa này khắc lên bia đá tốt để phát dương hương thơm trung nghĩa ở chốn cửu tuyền, để lại cho đời sau gương soi trong việc chọn hiền, thật là nhân hậu xiết bao!</p>
<p>Hãy lấy sự nghiệp của các nhân tài thi đỗ khoa này mà xem: có người cứng cỏi dám nói, khảng khái đứng giữa triều, nghị bàn xác đáng4, gian khó không nề, đáng gọi là bậc Trạng nguyên trung hiếu. Có người văn học uyên bác, làm khuôn mẫu cho đời, học trò kính ngưỡng như Thái Sơn, Bắc Đẩu, mà cũng được sự hâm mộ ở mọi người, đáng gọi là bậc quân tử vàng ngọc. Có người đi sứ xướng họa thơ văn mà làm cho uy thế của nước nhà thêm trọng. Có người ở dinh Ngự sử mà kẻ gian nịnh phải rét lòng, thật cũng có ích thay!</p>
<p>Nếu không được như thế, tức là chỉ ngồi không, coi việc giữ tước lộc chức vị là cao, coi xảo trá giả dối là trí, chạy theo dục vọng mà không theo đạo đức, bỏ thực chất mà theo hư danh, như thế thì hình tích đã chẳng còn, mà công luận không sao cho thoát, há chẳng đáng khinh bỉ lắm thay! Đủ biết bia đá này dựng lên, ý khích lệ thật rất sâu sắc, ý khuyên răn cũng thật rất đến chốn, đáng bổ ích cho thế đạo, há chỉ là đặt dựng suông đâu.</p>
<p>Thần kính cẩn làm bài ký.</p>
<p>Tá lý công thần Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Tham tụng, Thượng thư Bộ Lại kiêm Đông các Đại học sĩ Thiếu phó Liêm Quận công Nguyễn Quý Đức vâng sắc nhuận.</p>
<p>Cẩn sự lang Hàn lâm viện Hiệu lý Tri Thị nội Thư tả Thủy binh phiên Nguyễn Quý Ân5 vâng sắc soạn.</p>
<p>Bia dựng ngày 2 tháng 3 niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 13 (1717) Hoàng triều.</p>
<p><strong><em>Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ</em></strong>, 3 người:</p>
<p><strong>NGUYỄN QUỐC TRINH </strong>阮國楨6 người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì.</p>
<p><strong>NGUYỄN VĂN BÍCH </strong>阮文璧7 người xã Bất Quần huyện Quảng Xương.</p>
<p><strong>NGUYỄN VĂN THỰC </strong>阮文實8 người xã Đại Bái huyện Gia Định.</p>
<p><strong><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân</em></strong>, 2 người:</p>
<p><strong>MAI TRỌNG HÒA </strong>枚仲和9 người xã Đào Tai huyện Quế Dương.</p>
<p><strong>ĐỖ THIỆN CHÍNH </strong>杜善政10 người xã Đông Biện huyện Vĩnh Phúc.</p>
<p><strong><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân</em></strong>, 15 người:</p>
<p><strong>PHẠM DUY CHẤT </strong>范惟質11 người xã Ngọ Trang huyện Thiên Bản.</p>
<p><strong>NGUYỄN VINH THỊNH </strong>阮榮盛12 người xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm.</p>
<p><strong>NGUYỄN TUNG </strong>阮嵩13 người xã Thượng Đáp huyện Thanh Lâm.</p>
<p><strong>LÊ THỨC </strong>黎軾14người xã Tam Lộng huyện Lôi Dương.</p>
<p><strong>ĐỖ VĂN LUÂN </strong>杜文綸15 người xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm.</p>
<p><strong>VŨ CẦU HỐI </strong>武求誨16 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.</p>
<p><strong>VŨ BẬT HÀI </strong>武弼諧17 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.</p>
<p><strong>VŨ CÔNG ĐẠO </strong>武公道18 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.</p>
<p><strong>NGUYỄN MẬU DỊ </strong>阮茂異19 người xã Kim Sơn huyện Gia Lâm.</p>
<p><strong>BÙI VĂN TRINH </strong>裴文貞20 người xã Hương Canh huyện Từ Liêm.</p>
<p><strong>LÊ CÔNG TRIỀU </strong>黎公朝21 người xã Mộ Trạch huyện Đường An.</p>
<p><strong>LÊ VĂN HY </strong>黎文禧22 người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống.</p>
<p><strong>LÊ CHÍ ĐẠO </strong>黎志道23 người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống.</p>
<p><strong>NINH ĐẠT </strong>寧達24 người xã Côi Trì huyện Yên Mô.</p>
<p><strong>NGÔ SÁCH THÍ </strong>吳策試25 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn.</p>
<p>Thị nội thư tả hộ phiên tướng công thứ lang huyện thừa, người xã Hoa Đường huyện Đường An là Phạm Toàn vâng viết chữ (chân kiêm chữ triện).</p>
<p><em>Chú thích:</em></p>
<p>1. Xưa Chu Văn Vương mong có người hiền tài giúp việc chính sự, chiêm bao thấy có người tên là Phó Duyệt đang đắp mương làm ruộng. Văn Vương tìm đến thì quả nhiên gặp Phó Duyệt giống như người đã thấy trong mộng, bèn mời về triều giao việc chính sự, trở thành đại thần danh tiếng của nhà Chu.</p>
<p>2. Chỉ vua Lê Dụ Tông (1705-1729).</p>
<p>3. Tước phong Trịnh Cương năm 1714.</p>
<p>4. Nguyên văn: “ngư hùng thủ xả”, lấy hay bỏ món cá và món tay gấu, nghĩa là khi bàn luận biết lựa chọn.</p>
<p>5. Nguyễn Quý Ân (1673-1722) người xã Thiên Mỗ huyện Từ Liêm (nay là xã Đại Mỗ huyện Từ Liêm Tp. Hà Nội). Ông đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Mùi niên hiệu Vĩnh Thịnh 11 (1715). Ông là con của Thượng thư Nguyễn Quý Đức, làm quan Đề hình Tả Tư giảng. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Công, phúc thần Trung đẳng đại vương.</p>
<p>6. Nguyễn Quốc Trinh (1625-1674) người xã Nguyệt Áng huyện Thanh Trì (nay thuộc Đại Áng quận Hoàng Mai Tp. Hà Nội. Ông là anh của Nguyễn Đình Trụ, bác Nguyễn Đình Bách và Nguyễn Đình Ức. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại, tước Liêm Trì tử và được cử làm Chánh sứ (năm 1667) sang nhà Thanh (Trung Quốc). Tháng 5 năm Giáp Dần niên hiệu Đức Nguyên thứ 1 (1674), quân Tam phủ cậy công, sinh ra kiêu ngạo phóng túng, ông và Phạm Công Trứ bàn cách hạn chế bớt đi. Nên ông bị quân Tam phủ đón đường giết chết, dân chúng Thăng Long đều thương tiếc. Triều đình truy tặng ông chức Bộ Binh, tước Trì Quận công, tên thụy là Cương Trung, phong làm phúc thần. Có tài liệu ghi ông tên là Nguyễn Quốc Khôi.</p>
<p>7. Nguyễn Văn Bích (1620-1706) nguyên quán Bất Quần huyện Quảng Xương (nay thuộc xã Trường Lâm huyện Tĩnh Gia tỉnh Thanh Hóa), trú quán xã Ứng Mộ huyện Vĩnh Lại (nay thuộc huyện Vĩnh Bảo, Tp. Hải Phòng). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ, Nhập thị Kinh diên, tước tử và từng được cử đi sứ sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư Bộ Công, tước hầu.</p>
<p>8. Nguyễn Văn Thực (1631-1694) người xã Đại Bái huyện Gia Định (nay là xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng thư Bộ Binh, Nhập thị Kinh diên, tước Hải Sơn bá. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lại, tước Hải Quận công. Có tài liệu ghi là Nguyễn Danh Thực.</p>
<p>9. Mai Trọng Hòa (1610-?) người xã Đào Tai huyện Quế Dương (nay thuộc xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hiến sứ.</p>
<p>10. Đỗ Thiện Chính (1627-?) người xã Đông Biện huyện Vĩnh Phúc (nay thuộc huyện Vĩnh Lộc tỉnh Thanh Hóa). Ông trước đã đỗ khoa Sĩ vọng, giữ chức Chỉ huy sứ. Sau lại đi thi, ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Công, tước tử.</p>
<p>11. Phạm Duy Chất (?-?) người xã Ngọ Trang huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Liên Minh huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông trước làm Chỉ huy Thiêm sự và sau lại đi thi, làm quan đến Đông các Đại học sĩ. Sau khi mất được tặng Hữu Thị lang.</p>
<p>12. Nguyễn Vinh Thịnh (1626-?) người xã Nghĩa Đô huyện Từ Liêm (nay thuộc Nghĩa Đô quận Cầu Giấy Tp. Hà Nội), nguyên quán xã Hạ Yên Quyết (nay thuộc Yên Hòa cùng quận). Ông làm quan Đề hình.</p>
<p>13. Nguyễn Tung (1622-?) người xã Thượng Đáp huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã An Châu huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tư huấn.</p>
<p>14. Lê Thức (1628-?) người xã Tam Lộng huyện Lôi Dương (nay thuộc xã Thọ Trường huyện Thọ Xuân tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hiến sứ.</p>
<p>15. Đỗ Văn Luân (1634-?) người xã Thượng Yên Quyết huyện Từ Liêm (nay thuộc Yên Hòa quận Cầu Giấy Tp. Hà Nội). Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo.</p>
<p>16. Vũ Cầu Hối (1618-?) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính, sau phạm tội bị đi đầy.</p>
<p>17. Vũ Bật Hài (1629-?) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông là con của Vũ Duy Chí, cháu của Vũ Bạt Tụy và Vũ Cầu Hối. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lại, tước tử và được cử đi sứ (năm 1673) sang nhà Thanh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Lễ, tước bá. Ông còn có tên là Vũ Duy Hài.</p>
<p>18. Vũ Công Đạo (1629-1714) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông giữ các chức quan, như Đô Ngự sử, Nhập thị Kinh diên, Hữu Thị lang Bộ Hình, Hữu Thị lang Bộ Hộ. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư Bộ Công, tước bá.</p>
<p>19 Nguyễn Mậu Dị (1622-?) người xã Kim Sơn huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Kim Sơn huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông là em của Nguyễn Mậu Tài và là chú của Nguyễn Huy Viên. Ông làm quan Lễ khoa Đô Cấp sự trung.</p>
<p>20. Bùi Văn Trinh (1615-1683) người xã Hương Canh huyện Từ Liêm (nay thuộc xã Xuân Phương huyện Từ Liêm Tp.Hà Nội). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Binh, tước tử. Sau khi mất, ông được tặng Tả Thị lang Bộ Lễ.</p>
<p>21. Lê Công Triều (1630-?) người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Tham chính.</p>
<p>22. Lê Văn Hy (?-?) người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống (nay thuộc xã Hoàng Giang huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo.</p>
<p>23. Lê Chí Đạo (1524-?) người xã Cổ Đôi huyện Nông Cống (nay thuộc xã Hoàng Giang huyện Nông Cống tỉnh Thanh Hóa). Ông là cha của Lê Chí Tuân, làm quan Tham chính.</p>
<p>24. Ninh Đạt (1618-?) người xã Côi Trì huyện Yên Mô (nay thuộc xã Yên Mỹ huyện Yên Mô tỉnh Ninh Bình). Ông làm quan Giám sát.</p>
<p>25. Ngô Sách Thí (1632-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay là xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), nguyên quán ở xã Nghĩa Lập cùng huyện (nay thuộc xã Phù Khê huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông là cha của Ngô Sách Dụ và Ngô Sách Tuân. Ông làm quan đến chức án sát</p>
<div></div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ninh-dat-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ninh Triết (1540 &#8211; ?)</title>
		<link>https://honinh.com/ninh-triet-2/</link>
					<comments>https://honinh.com/ninh-triet-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 09:29:22 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<category><![CDATA[Song Khê]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=1916</guid>

					<description><![CDATA[Cụ tổ Ninh Triết sinh năm 1540 người xã Song Khê huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Cụ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<div class="box_content_layer_l">
<div class="box_content_layer_2">
<div class="boxgiua">
<div class="boxgiua_lop1">
<div class="boxgiua_lop2">
<p>Cụ tổ Ninh Triết sinh năm 1540 người xã Song Khê huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. Cụ đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6 (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Cụ làm quan Thừa chính sứ coi việc hành chính, tư pháp của 1 đạo thời nhà Mạc, hàng tùng Tam Phẩm<br />
Cụ là tổ nhánh họ Ninh tại xã Song Khê huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.</p>
<p style="text-align: center;"><strong>VĂN BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>TỪ KHOA QUÝ SỬU (1553) ĐẾN KHOA NHÂM THÌN (1592)</strong></p>
<p>黎景曆癸丑科第一甲狀元阮 亮采嘉定平吳左侍郎定岩侯第二甲進士阮義立安勇安寧奉使尚書阮端表僊遊懷抱仕曆六部尚書阮兼鈞僊遊內裔奉使尚書范紹桂陽邾 溪奉使尚書少保第三甲同進士阮克綏善才湛油奉使尚書吳執中東岸河魯仕至憲察梁逢辰善才梁舍奉使尚書少保吳汪安越奮雷兵科給事枚功桂陽桃腮奉使尚書。</p>
<p>光寶丙辰科第一甲探花阮堯佐安豐真護承政使第三甲同進士阮雄斷善才古攬史部侍郎阮亮武寧金堆史部尚書吳懌東岸三山仕至参政吳慶濃安豐真護都御史贈尚 書武謹安越卒辣尚書郡公阮鳳雛安越車輦奉天店尹陳道潛僊遊盎塢侍郎奉使贈尚書。</p>
<p>光寶己未科第二甲進士阮達善東岸詠橋都給事中黎瑤東岸扶寧給事中第三甲同進士阮忱嘉定大拜仕至参政阮嘉謀東岸義立仕至参政阮王+敬洽和桂棹奉使尚書 致仕阮廷簡嘉定瓊佩仕至参政鄭維聰嘉定立愛侍郎致仕。</p>
<p>淳福壬戌科第二甲進士阮龍讓武寧金堆奉使尚書阮克敬超類青准會元奉使尚書第三甲同進士武與+呂東岸翁墨参政致仕阮文夾桂陽大蒜仕至参政。</p>
<p>淳富己丑科第一甲探花庭元范光進善才梁舍奉使東閣大學士第二甲進士阮挺秀善才程溪刑部侍郎第三甲同進士阮旨工東岸東出仕至寺卿阮顯績東岸詠橋兵部侍 郎。</p>
<p>淳福戊辰科第二甲進士杜安細江太樂仕至侍郎阮希良善才淵浪仕至斷事第三甲同進士甲灃鳳眼郢薊翰林校討阮廷珪超類大卯仕至憲察。</p>
<p>崇康辛未科第一甲探花阮珙僊遊懷抱翰林侍制第二甲進士阮灃桂陽桃腮奉使尚書第三甲同進士黃有光武寧黃載参政范彦撮桂陽覽山承政寧哲安勇雙溪承政。</p>
<p>崇康甲戌科第一甲探花武文奎嘉定董林東閣大學士義郡公第三甲同進士杜顯先福春朿+東仕至承政陳叔寶東岸莊烈仕至斷事阮汝楫洽和福美仕至侍郎馮湛安世 陽山仕至寺卿阮維龍鳳眼郢淵仕至承政阮仁昭仙遊內裔仕至侍郎。</p>
<p>崇康丁丑科第一甲狀元武玠善才梁舍侍郎榜眼阮仁霑僊遊內裔再中東閣侍郎奉使第二甲進士黎曰倘嘉林樂道仕至侍郎第三甲同進士阮光亮善才丙東仕至参政。</p>
<p>延成庚辰科第二甲進士杜直細江頼屋東閣大學士吳澄安豐望月會元阮旦僊遊內裔仕至憲察阮奇逢嘉定大拜翰林校討第三甲同進士阮諍善才文舍覃文節桂陽覽初 阮安安豐東川監察御史。</p>
<p>延成癸未科第三甲同進士陳慶興東岸莊烈都給事中黎明善才青挪史科給事阮挺超類永世奉天店尹裴亮采善才梁舍参政奉使贈寺卿。</p>
<p>端泰丙戌科第一甲探花阮教方東岸詠橋會庭双元仕至侍郎第三甲同進士阮禮恭超類青准都給事中陳文藻超類公河仕至憲察阮恒細江花橋仕至参政。</p>
<p>興治己丑科第三甲同進士王中嘉林金+本場都給事中陳丕昭東岸花軺尚書郡公阮有儒善才殷蒙承政謝純洽和黃雲仕至監察阮碩德東岸寧江承政阮兼束+由桂陽 羅□監察御史。</p>
<p>洪寧壬辰科第二甲進士阮藻像祿辰邁仕至侍郎第三甲同進士阮有德洽和秀錦仕至翰林范珍僊遊芝泥刑科給事阮仁香+复細江如鳳監察御史阮周勝東岸花軺仕至 参政杜煥桂陽溪沱監察御史范從命嘉定東平仕至翰林。</p>
<p><strong>Niên hiệu Cảnh Lịch thời Mạc khoa Quý Sửu</strong></p>
<p><em>Đệ nhất giáp Trạng nguyên</em>:</p>
<p><strong>NGUYỄN LƯỢNG THÁI </strong>阮亮采1 người xã Bình Ngô huyện Gia Định, làm quan Tả Thị lang, tước Định Nham hầu.</p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN NGHĨA LẬP </strong>阮義立2 người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng, đi sứ, làm quan đến Thượng thư.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐOAN TRUNG </strong>阮端衷3 người xã Hoài Bão huyện Tiên Du, làm quan trải Thượng thư lục bộ.</p>
<p><strong>NGUYỄN BỈNH QUÂN </strong>阮秉鈞4 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, đi sứ, làm quan Thượng thư.</p>
<p><strong>PHẠM THIỆU </strong>笵紹5 người xã Châu Khê huyện Quế Dương, đi sứ, làm quan Thượng thư, Thiếu Bảo.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN KHẮC TUY </strong>阮克綏6 người xã Trạm Du huyện Thiện Tài, đi sứ, làm quan Thượng thư.</p>
<p><strong>NGÔ CHẤP TRUNG </strong>吳執中7 người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn, làm quan Hiến sát.</p>
<p><strong>LƯƠNG PHÙNG THÌN </strong>梁逢辰8 người xã Lương Xá huyện Thiện Tài, đi sứ, làm quan Thượng thư, Thiếu bảo.</p>
<p><strong>NGÔ UÔNG </strong>吳汪9 người xã Phấn Lôi huyện Yên Việt, làm Binh khoa Cấp sự trung.</p>
<p><strong>MAI CÔNG </strong>梅功10 người xã Đào Tai huyện Quế Dương, đi sứ, làm quan Thượng thư.</p>
<p><strong>Niên hiệu Quang Bảo thời Mạc khoa Bính Thìn</strong></p>
<p><em>Đệ nhất giáp Thám hoa:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN NGHIÊU TÁ </strong>阮堯佐11 người xã Chân Hộ huyện Yên Phong, làm Thừa chính sứ.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN HÙNG ĐOÁN </strong>阮雄斷12 người xã Cổ Lãm huyện Thiện Tài, làm Thị lang Bộ Lại.</p>
<p><strong>NGUYỄN LƯỢNG </strong>阮亮13 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, làm Thượng thư Bộ Lại.</p>
<p><strong>NGÔ DỊCH </strong>吳懌14 người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>NGÔ KHÁNH NÙNG </strong>吳慶濃15 người xã Chân Hộ huyện Yên Phong, làm quan Ngự sử, sau được tặng Thượng thư.</p>
<p><strong>VŨ CẨN </strong>武謹16 người xã Tân Lạt huyện Yên Việt, làm Thượng thư, tước Quận công.</p>
<p><strong>NGUYỄN PHƯỢNG SỒ </strong>阮鳳雛17 người xã Xa Liễn huyện Yên Việt, làm quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên.</p>
<p><strong>TRẦN ĐẠO TIỀM </strong>陳道潛18 người xã Xuân Ổ huyện Tiên Du, làm quan Thị lang, đi sứ, sau được tặng Thượng thư.</p>
<p><strong>Niên hiệu Quang Bảo thời Mạc khoa Kỷ Mùi</strong></p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN ĐẠT THIỆN </strong>阮達善19 người xã Vịnh Kiều huyện Đông Ngàn, làm Đô Cấp sự trung.</p>
<p><strong>LÊ DAO </strong>黎瑤20 người xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn, làm Đô Cấp sự trung.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN THẦM </strong>阮忱21 người xã Đại Bái huyện Gia Định, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>NGUYỄN GIA MƯU </strong>阮嘉謀22 người xã Nghĩa Lập huyện Đông Ngàn, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>NGUYỄN KÍNH </strong>阮璥23 người Quế Trạo huyện Hiệp Hòa, đi sứ, làm quan Thượng thư, về trí sĩ.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐÌNH GIẢN </strong>阮廷簡24 người xã Quỳnh Bội huyện Gia Định, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>TRỊNH DUY THÔNG </strong>鄭維聰25 người xã Lập Ái huyện Gia Định, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>Niên hiệu Thuần Phúc thời Mạc khoa Nhâm Tuất</strong></p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN NĂNG NHƯỢNG </strong>阮能讓26 người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh, đi sứ, làm quan Thượng thư.</p>
<p><strong>NGUYỄN KHẮC KÍNH </strong>阮克敬27 người xã Thanh Hoài huyện Siêu Loại, đỗ Hội nguyên, đi sứ, làm quan Thượng thư.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>VŨ DỰ </strong>武譽28 người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn, làm Tham chính, về trí sĩ.</p>
<p><strong>NGUYỄN VĂN SẢNG </strong>阮文爽29 người xã Đại Toán huyện Quế Dương, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>Niên hiệu Thuần Phúc thời Mạc khoa Kỷ Sửu</strong></p>
<p><em>Đệ nhất giáp Thám hoa Đình nguyên:</em></p>
<p><strong>PHẠM QUANG TIẾN </strong>笵光進30 người xã Lương Xá huyện Thiện Tài, đi sứ, làm Đông các Đại học sĩ.</p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN ĐÌNH TÚ </strong>阮廷秀31 người xã Trình Khê huyện Thiện Tài, làm quan Thị lang Bộ Hình.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN CHỈ CÔNG </strong>阮旨工32 người xã Đông Xuất huyện Đông Ngàn, làm quan đến Thị lang.</p>
<p><strong>NGUYỄN HIỂN TÍCH </strong>阮顯績33 người xã Vĩnh Kiều huyện Đông Ngàn, làm quan đến Thị lang.</p>
<p><strong>Niên hiệu Thuần Phúc thời Mạc khoa Mậu Thìn</strong></p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>ĐỖ AN </strong>杜安34 người xã Thái Lạc huyện Tế Giang, làm quan đến Thị lang.</p>
<p><strong>NGUYỄN HY LƯƠNG </strong>阮希良35 người xã Uyên Lãng huyện Thiện Tài, làm quan đến Đoán sự.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>GIÁP LỄ </strong>甲澧36 người xã Dĩnh Kế huyện Phượng Nhỡn, làm Hàn lâm Hiệu thảo.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐÌNH KHUÊ </strong>阮廷珪37 người xã Đại Mão huyện Siêu Loại, làm quan đến Hiến sát.</p>
<p><strong>Niên hiệu Sùng Khang thời Mạc khoa Tân Mùi</strong></p>
<p><em>Đệ nhất giáp Thám hoa:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN CUNG </strong>阮珙38 người xã Hoài Bão huyện Tiên Du, làm Hàn lâm Thị chế.</p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN LỄ </strong>阮澧39 người xã Đào Tai huyện Quế Dương, đi sứ, làm Thượng thư.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>HOÀNG HỮU QUANG </strong>黃有光40 người xã Hoàng Tải huyện Vũ Ninh, làm Tham chính.</p>
<p><strong>PHẠM NGẠN TOÁT </strong>笵彥撮41 người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương, làm Thừa chính.</p>
<p><strong>NINH TRIẾT</strong> 寧哲42 người xã Song Khê huyện Yên Dũng, làm Thừa chính.</p>
<p><strong>Niên hiệu Sùng Khang thời Mạc khoa Giáp Tuất</strong></p>
<p><em>Đệ nhất giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>VŨ VĂN KHUÊ </strong>武文奎43 người xa Đổng Lâm huyện Gia Định, làm Đông các Đại học sĩ, tước Nghĩa Quận công.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>ĐỖ HIỂN </strong>杜顯44 người xã Xuân Tảo huyện Tiên Phúc, làm quan đến Thừa chính.</p>
<p><strong>TRẦN THÚC BẢO </strong>陳叔寶45 người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn, làm quan đến Đoán sự.</p>
<p><strong>NGUYỄN NHỮ TIẾP </strong>阮汝楫46 người xã Phúc Mỹ huyện Hiệp Hòa, làm quan đến Thị lang.</p>
<p><strong>PHÙNG TRẠM </strong>馮湛47 người xã Dương Sơn huyện Yên Thế, làm quan đến Tự khanh.</p>
<p><strong>NGUYỄN DUY NĂNG </strong>阮維能48 người xã Dĩnh Uyên Phượng Nhỡn, làm quan đến Thừa chính.</p>
<p><strong>NGUYỄN NHÂN CHIÊU </strong>阮仁昭 49 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, làm quan đến Thị lang.</p>
<p><strong>Niên hiệu Sùng Khang thời Mạc khoa Đinh Sửu</strong></p>
<p><em>Đệ nhất giáp Trạng nguyên:</em></p>
<p><strong>VŨ GIỚI </strong>武玠 50 người xã Lương Xá huyện Thiện Tài, làm Thị lang.</p>
<p><em>Bảng nhãn:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN NHÂN TRIÊM </strong>阮仁霑 51 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, tái trúng Đông các, làm Thị lang, đi sứ.</p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>LÊ VIẾT THẢNG </strong>黎曰倘52 người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm, làm quan đến Thị lang.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN QUANG LƯỢNG </strong>阮光亮53 người xã Nhuế Đông huyện Thiện Tài, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>Niên hiệu Diên Thành thời Mạc khoa Canh Thìn</strong></p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>ĐỖ TRỰC </strong>阮直 54 người xã Lại Ốc huyện Tế Giang, làm Đông các Đại học sĩ.</p>
<p><strong>NGÔ TRỪNG </strong>吳澄 55 người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong, đỗ Hội nguyên.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐÁN </strong>阮旦56 người xã Nội Duệ huyện Tiên Du, làm quan đến Hiến sát.</p>
<p><strong>NGUYỄN KỲ PHÙNG </strong>阮奇逢 57 người xã Đại Bái huyện Gia Định, làm Hàn lâm Hiệu thảo.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN TRANH </strong>阮琤 58 người xã Văn Xá huyện Thiện Tài.</p>
<p><strong>ĐÀM VĂN TIẾT </strong>覃文節59 người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương.</p>
<p><strong>NGUYỄN AN </strong>阮安 60 người xã Đông Xuyên huyện Yên Phong, làm Giám sát Ngự sử.</p>
<p><strong>Niên hiệu Diên Thành thời Mạc khoa Quý Mùi</strong></p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>TRẦN KHÁNH HƯNG </strong>陳慶興 61 người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn, làm Đô Cấp sự trung.</p>
<p><strong>LÊ MINH </strong>黎明62 người xã Thanh Gia huyện Thiện Tài, làm Lại khoa Cấp sự.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐĨNH </strong>阮挺63 người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại, làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên.</p>
<p><strong>BÙI LƯỢNG THÁI </strong>裴亮采64 người xã Lương Xá huyện Thiện Tài, làm Tham chính, đi sứ, tặng Tự khanh.</p>
<p><strong>Niên hiệu Đoan Thái thời Mạc khoa Bính Tuất</strong></p>
<p><em>Đệ nhất giáp Thám hoa:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN GIÁO PHƯƠNG</strong>阮教方65 người xã Vĩnh Kiều huyện Đông Ngàn, đỗ giải nguyên kỳ thi Hương, Hội, Đình, làm quan đến chức Thị lang.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN LỄ CUNG </strong>阮禮恭 66 người xã Thanh Hoài huyện Siêu Loại, làm Đô Cấp sự trung.</p>
<p><strong>TRẦN VĂN TẢO </strong>陳文藻 67 người xã Công Hà huyện Siêu Loại, làm quan đến Hiến sát.</p>
<p><strong>NGUYỄN HẰNG </strong>阮恒 68 người xã Hoa Cầu huyện Tế Giang, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>Niên hiệu Hưng Trị thời Mạc khoa Kỷ Sửu</strong></p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>VƯƠNG TRUNG </strong>王中69 người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm, làm Đô Cấp sự trung.</p>
<p><strong>TRẦN PHI CHIÊU </strong>陳丕昭70 người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn, làm Thượng thư, tước Quận công.</p>
<p><strong>NGUYỄN HỮU NHO </strong>阮有儒 71 người xã Khải Mông huyện Thiện Tài, làm Thừa chính.</p>
<p><strong>TẠ THUẦN </strong>謝純 72 người xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa, làm đến Giám sát.</p>
<p><strong>NGUYỄN THẠC ĐỨC </strong>阮碩德 73 người xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn, làm Thừa chính.</p>
<p><strong>NGUYỄN BỈNH TRỤC </strong>阮秉軸 74 người xã La Miệt huyện Quế Dương, làm Giám sát Ngự sử.</p>
<p><strong>Niên hiệu Hồng Ninh thời Mạc khoa Nhâm Thìn</strong></p>
<p><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN TẢO </strong>阮藻 75 người xã Thời Mại huyện Bảo Lộc, làm quan đến Thị lang.</p>
<p><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ:</em></p>
<p><strong>NGUYỄN HỮU ĐỨC </strong>阮有德 76 người xã Tú Cẩm huyện Hiệp Hòa, làm quan đến Hàn lâm.</p>
<p><strong>PHẠM TRÂN </strong>笵珍 77 người xã Chi Nê huyện Tiên Du, làm Hình khoa Cấp sự.</p>
<p><strong>NGUYỄN NHÂN PHỨC </strong>阮仁馥 78 người xã Như Phượng huyện Tế Giang, làm Giám sát Ngự sử.</p>
<p><strong>NGUYỄN CHU THẮNG </strong>阮周勝 79 người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn, làm quan đến Tham chính.</p>
<p><strong>ĐỖ HOÁN </strong>杜煥 80 người xã Hán Đà huyện Quế Dương, làm Giám sát Ngự sử.</p>
<p><strong>PHẠM TÒNG MỆNH </strong>笵從命 81 người xã Đông Bình huyện Gia Định, làm Hàn lâm.</p>
<p><strong><em>Chú thích:</em></strong></p>
<p>1. Nguyễn Lượng Thái (1552-?) người xã Bình Ngô huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), trú quán xã Trạm Lộ ( cùng huyện), đỗ Đệ nhất giáp đồng Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ, tước Định Nham hầu.</p>
<p>2. Nguyễn Nghĩa Lập (1527-?) người xã Yên Ninh huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Hoàng Ninh huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân đệ nhất danh, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc), tước Dũng Xuyên bá, có tài liệu ghi tước Dũng Xuyên hầu.</p>
<p>3. Nguyễn Đoan Trung (?-?) người xã Hoài Bão huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Trước khi thi, ông làm Huấn đạo, sau làm đến Thượng thư lục bộ kiêm Thừa Chính sứ Hải Dương.</p>
<p>4. Nguyễn Bỉnh Quân (?-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Trước khi đi thi, ông đã làm Tri huyện, sau làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Binh, tước An Lộc hầu và được cử sứ. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư.</p>
<p>5. Phạm Thiệu (1510-?) người xã Châu Khê huyện Quế Dương (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), trú quán ở xã Dũng Liệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Dũng Liệt huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư, tước Châu Khê hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc), về trí sĩ. Sau khi mất, ông được truy tặng Thiếu bảo.</p>
<p>6. Nguyễn Khắc Tuy (1521-1587) người xã Trạm Du huyện Thiện Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan trải các chức Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Văn Nham hầu và được cử đi sứ, về trí sĩ. Sau khi mất, ông được truy tặng Thượng thư Bộ Lại.</p>
<p>7. Ngô Chấp Trung (?-?) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Liên Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội), trú quán ở xã Hà Hựu (cùng huyện), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ.</p>
<p>8. Lương Phùng Thì (1522-?) người xã Lương Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư, Thiếu bảo, tước Lương Khê hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>9. Ngô Uông (?-?) người xã Phấn Lôi huyện Yên Việt (nay thuộc xã Nham Sơn huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Binh khoa Đô Cấp sự trung.</p>
<p>10. Mai Công (1530-?) người xã Đào Tai huyện Quế Dương (nay thuộc xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Sửu niên hiệu Cảnh Lịch thứ 6. (1553) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ lễ, tước An Thường hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>11. Nguyễn Nghiêu Tá (?-?) người xã Chân Hộ huyện Yên Phong (nay thuộc xã Dũng Liệt huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.</p>
<p>12. Nguyễn Hùng Đoán (?-?) người xã Cổ Lãm huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Bình Định huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Trước khi thi, ông làm Tri huyện, sau làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lại, rồi bị truất xuống Tư nghiệp.</p>
<p>13. Nguyễn Lượng (?-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lại.</p>
<p>14. Ngô Dịch (?-?) người xã Tam Sơn huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông giữ các chức quan, như Tham chính, Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Hải Sơn nam. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Thượng thư.</p>
<p>15. Ngô Khánh Nùng (1528-?) người xã Chân Hộ huyện Yên Phong (nay thuộc xã Dũng Liệt huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Đô đài. Sau khi mất, ông được truy tặng Thượng thư, tước hầu.</p>
<p>16. Vũ Cẩn (1522-?) người xã Tân Lạt huyện Yên Việt (nay thuộc xã Tiên Sơn huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư Bộ Lễ, Thiếu bảo, tước Dũng Quận công, về trí sĩ.</p>
<p>17. Nguyễn Phượng Sồ (?-?) người xã Xa Liễn huyện Yên Việt (nay thuộc xã Châu Minh huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang), trú quán ở xã Nam Ngạn huyện Yên Việt (nay thuộc xã Quang Châu huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan Phủ doãn phủ Phụng Thiên.</p>
<p>18. Trần Đạo Tiềm (?-?) người xã Xuân Ổ huyện Tiên Du, (nay thuộc xã Võ Cường thị xã Bắc Ninh tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Thìn niên hiệu Quang Bảo thứ 3. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang, tước Hương Sơn bá và được cử đi sứ. Sau khi mất, ông được tặng Thượng thư, tước hầu.</p>
<p>19. Nguyễn Đạt Thiện (?-?) người xã Vịnh Kiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đệ nhất danh, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo thứ 6. (1559) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Binh khoa Đô Cấp sự trung.</p>
<p>20. Lê Dao (?-?) người xã Phù Ninh huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo thứ 5. (1559) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Cấp sự trung.</p>
<p>21. Nguyễn Thầm (1510-?) người xã Đoan Bái huyện Gia Định (nay thuộc xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), trú quán ở xã An Tráng huyện Thiện Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo thứ 6. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Trước khi đi thi, ông đã làm Hiến phó, sau giữ các chức quan, như Tham chính, Thượng thư Bộ Lễ.</p>
<p>22. Nguyễn Gia Mưu (?-?) người xã Nghĩa Lập huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Phù Khê huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo thứ 6. (1556) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Tham chính. Ông là học trò Trạng nguyên Ngô Miễn Thiệu và được thầy dạy gả con gái cho. Sau khi thi đỗ, ông đổi thành họ Ngô, con cháu về sau thêm tên đệm là Sách, là Ngô Sách… Nguyễn Gia Mưu là tằng tổ của Ngô Sách Dụ, Ngô Sách Tuân.</p>
<p>23. Nguyễn Kính (1522-?) người xã Quế Trạo huyện Hiệp Hòa (nay thuộc xã Thái Sơn huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo thứ 6. (1559) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Thượng thư, tước Hương Sơn hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau về trí sĩ.</p>
<p>24. Nguyễn Đình Giản (?-?) người xã Quỳnh Bội huyện Gia Định (nay thuộc xã Quỳnh Phú huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo thứ 6. (1559) đời Mạc Phúc Nguyên. Trước khi đi thi, ông làm Huấn đạo, sau làm quan đến Tham chính.</p>
<p>25. Trịnh Duy Thông (1512-?) người xã Lập Ái huyện Gia Định (nay thuộc xã Giang Sơn huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Mùi niên hiệu Quang Bảo thứ 6. (1559) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Hộ, tước Vạn Tư bá, về trí sĩ.</p>
<p>26. Nguyễn Năng Nhượng (1536-?) người xã Kim Đôi huyện Vũ Ninh (nay thuộc xã Kim Chân huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Thuần Phúc thứ 1. (1562) Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thượng thư, tước Đạo Phái hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Có tài liệu ghi ông tên là Nguyễn Năng Nhuận.</p>
<p>27. Nguyễn Khắc Kính (1562) người xã Thanh Hoài huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Thanh Khương huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Thuần Phúc thứ 1. (1556) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thượng thư, tước Thanh Lãng hầu và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau ông theo nhà Lê, bị giáng làm Thừa chính sứ Sơn Tây.</p>
<p>28. Vũ Dự (1538-1578) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Thuần Phúc thứ 1. (1562) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tham chính, về trí sĩ. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Dự.</p>
<p>29. Nguyễn Văn Sảng (1536-?) người xã Đại Toán huyện Quế Dương (nay thuộc xã Chi Lăng huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Tuất niên hiệu Thuần Phúc thứ 1. (1562) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan đến chức Tham chính.</p>
<p>30. Phạm Quang Tiến (1530-?) người xã Lương Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc thứ 4. (1565) đời Mạc Phúc Nguyên. Ông làm quan Đông các Đại học sĩ, được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc) và bị mất trên đường đi. Sau khi mất, ông được truy tặng chức Tả Thị lang.</p>
<p>31. Nguyễn Đình Tú (1542-?) người xã Trình Khê huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trung Chính huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), trú quán ở xã Lương Xá (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân đệ nhất danh, khoa Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc thứ 4. (1565) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Hình.</p>
<p>32. Nguyễn Chỉ Công (1518-?) người xã Đông Suất huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đông Thọ huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc thứ 4. (1565) đời Mạc Mậu Hợp. Trước khi đi thi, ông làm Tri phủ, sau ông làm quan đến chức Tự khanh.</p>
<p>33. Nguyễn Hiển Tích (1524-?) người xã Vĩnh Kiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Ất Sửu niên hiệu Thuần Phúc thứ 4. (1565) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Binh, tước Nghi Khê bá.</p>
<p>34. Đỗ An (?-?) người xã Thái Lạc huyện Tế Giang (nay thuộc xã Lạc Hồng huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Sùng Khang thứ 3. (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang, tước Trình Khê bá.</p>
<p>35. Nguyễn Hy Lương (?-?) người xã Uyên Lãng huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Tân Lãng huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Sùng Khang thứ 3. (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Đoán sự.</p>
<p>36. Giáp Lễ (1545-?) người xã Dĩnh Kế huyện Phượng Nhỡn (nay thuộc xã Dĩnh Kế thị xã Bắc Giang tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Sùng Khang thứ 3. (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan Hàn lâm Hiệu thảo. Giáp Lễ là con Trạng nguyên Giáp Hải.</p>
<p>37. Nguyễn Đình Khuê (1533-?) người xã Đại Mão huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Hoài Thượng huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Mậu Thìn niên hiệu Sùng Khang thứ 3. (1568) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ Hải Dương.</p>
<p>38. Nguyễn Cung (1540-?) người xã Hoài Bão huyện Tiên Du (nay thuộc xã Liên Bão huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6. (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hàn lâm Thị chế.</p>
<p>39. Nguyễn Lễ (1541-?) người xã Đào Tai huyện Quế Dương (nay thuộc xã Đào Viên huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6. (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thượng thư, tước bá và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau ông ra giúp nhà Lê.</p>
<p>40. Hoàng Hữu Quang (1526-?) người xã Hoàng Tải huyện Vũ Ninh (nay thuộc huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6. (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.</p>
<p>41. Phạm Ngạn Toát (1539-?) người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Nam Sơn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6. (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.</p>
<p>42. <strong>Ninh Triết (1540-?)</strong> người Song Khê huyện Yên Dũng (nay thuộc xã Song Khê huyện Yên Dũng tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Tân Mùi niên hiệu Sùng Khang thứ 6. (1571) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.</p>
<p>43. Vũ Văn Khuê (1542-?) người xã Đồng Lâm huyện Gia Định (nay thuộc xã Quỳnh Phú huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9. (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Đông các Đại học sĩ, tước Nghĩa Quận công.</p>
<p>44. Đỗ Hiển (1542-?) người xã Xuân Tảo huyện Tiên Phúc (nay thuộc xã Xuân Giang huyện Sóc Sơn Tp. Hà Nội), trú quán xã Ngọc Hà (nay thuộc phường Ngọc Hà Tp. Hà Nội), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9. (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thừa chính.</p>
<p>45. Trần Thúc Bảo (1531-?) người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9. (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Đoán sự. Sau ông theo giúp nhà Lê.</p>
<p>46. Nguyễn Nhữ Tiếp (1522-?) người xã Phúc Nghĩa huyện Hiệp Hòa (nay thuộc xã Mai Đình huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang), trú quán ở xã Đông Lâm huyện Yên Phong (nay thuộc xã Đông Tiến huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9. (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang, về trí sĩ.</p>
<p>47. Phùng Trạm (1543-?) người xã Dương Sơn huyện Yên Thế (nay thuộc huyện Yên Thế tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9. (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tự khanh.</p>
<p>48. Nguyễn Duy Năng (1534-?) người xã Dĩnh Uyên huyện Phượng Nhỡn (nay thuộc xã Dĩnh Kế thị xã Bắc Giang tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9. (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thừa chính sứ.</p>
<p>49. Nguyễn Nhân Chiêu (1532-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Giáp Tuất niên hiệu Sùng Khang thứ 9. (1574) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thị lang.</p>
<p>50. Vũ Giới (1541-1593) người xã Lương Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhất danh, khoa Đinh Sửu niên hiệu Sùng Khang thứ 12. (1577) đời Mạc Mậu Hợp. Ông giữ các chức quan, như Hữu Thị lang, Thượng thư.</p>
<p>51. Nguyễn Nhân Triêm (1530-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ nhị danh, khoa Đinh Sửu niên hiệu Sùng Khang thứ 12. (1577) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tả Thị lang Bộ Lại và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông là anh của Nguyễn Nhân Chiêu.</p>
<p>52. Lê Viết Thảng (1525-?) người xã Lạc Đạo huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Lạc Đạo huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Sửu niên hiệu Sùng Khang thứ 12. (1577) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang. Sau theo giúp nhà Lê. Có tài liệu chép là Dương Viết Thảng.</p>
<p>53. Nguyễn Quang Lượng (1521-?) người xã Nhuế Đông huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trung Chính huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Đinh Sửu niên hiệu Sùng Khang thứ 12. (1577) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tham chính sứ, tước hầu.</p>
<p>54. Đỗ Trực (1537-?) người xã Lại Ốc huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3. (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan Đông các Đại học sĩ, tước An Giang hầu.</p>
<p>55. Ngô Trừng (1540-?) người xã Vọng Nguyệt huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3. (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tự khanh. Sau ông theo giúp nhà Lê. Ngô Trừng là cháu nội Ngô Ngọc, là con Ngô Hải, là cha Ngô Nhân Kiệt, là ông nội Ngô Nhân Tuấn. Có tài liệu ghi ông là Ngô Nhân Trừng.</p>
<p>56. Nguyễn Đán (1526-?) người xã Nội Duệ huyện Tiên Du (nay thuộc xã Nội Duệ huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3. (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ. Sau ông theo giúp nhà Lê.</p>
<p>57. Nguyễn Kỳ Phùng (1556-?) người xã Đại Bái huyện Gia Định (nay thuộc xã Đại Bái huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3. (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hàn lâm Hiệu thư.</p>
<p>58. Nguyễn Tranh (1549-?) người xã Văn Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Hòa huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3. (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Sau ông theo nhà Lê.</p>
<p>59. Đàm Văn Tiết (1526-?) người xã Lãm Sơn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Nam Sơn huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3. (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Trước khi đi thi, ông làm Huấn đạo, sau làm quan đến chức Hiến sát sứ, nhưng phạm lỗi nên bị truất.</p>
<p>60. Nguyễn An (1546-?) người xã Đông Xuyên huyện Yên Phong (nay thuộc xã Đông Tiến huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Canh Thìn niên hiệu Diên Thành thứ 3. (1580) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.</p>
<p>61. Trần Khánh Hưng (1534-?) người xã Trang Liệt huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Diên Thành thứ 6. (1583) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến Cấp sự trung, sau ông theo nhà Lê.</p>
<p>62. Lê Minh (1551-?) người xã Thanh Gia huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Quảng Phú huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), trú quán xã Thạch Lỗi huyện Cẩm Giàng tỉnh Hải Dương, đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi, niên hiệu Diên Thành thứ 6. (1583) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Lại khoa Đô Cấp sự trung.</p>
<p>63. Nguyễn Đĩnh (1542-?) người xã Vĩnh Thế huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Trí Quả huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Diên Thành thứ 6. (1583) đời Mạc Mậu Hợp. Trước khi đi thi, ông làm Tri huyện, sau làm quan đến chức Lễ khoa Đô Cấp sự trung thời Mạc và làm Phủ doãn phủ Phụng Thiên thời Lê.</p>
<p>64. Bùi Lượng Thái (1542-?) người xã Lai Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Lương huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Quý Mùi niên hiệu Diên Thành thứ 6. (1583) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Tham chính, tước tử và được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc). Sau khi mất, ông được tặng Tự khanh, tước bá. Có tài liệu ghi ông là Bùi Lượng Cảo.</p>
<p>65. Nguyễn Giáo Phương (1549-1592), tự là Hoa Nghĩa người xã Vĩnh Kiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đồng Nguyên huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ đệ tam danh, khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái thứ 1. (1586) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan nhà Mạc hơn 6. năm, khi nhà Mạc thất thế, ông theo Mạc Kính Cung lên giữ đất Thái Nguyên, Cao Bằng. Ông làm quan đến chức Hữu Thị lang Bộ Binh, tước Vĩnh Nham hầu.</p>
<p>66. Nguyễn Lễ Cung (1556-?) người xã Thanh Hoài huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Thanh Khương huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái thứ 1. (1586) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Cấp sự trung. Ông là con Nguyễn Khắc Kính.</p>
<p>67. Trần Văn Tảo (1546-?) người xã Công Hà huyện Siêu Loại (nay thuộc xã Thanh Khương huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái thứ 1. (1586) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hiến sát sứ. Có tài liệu ghi là Nguyễn Văn Tảo.</p>
<p>68. Nguyễn Hằng (1558-?) người xã Hoa Cầu huyện Tế Giang (nay thuộc xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Đoan Thái thứ 1. (1586) đời Mạc Mậu Hợp. Sau ông theo nhà Lê, làm quan đến chức Tham chính, tước Thọ Kiều bá, về trí sĩ.</p>
<p>69. Vương Trung (1537-?) người xã Bát Tràng huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Bát Tràng huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Bính Tuất niên hiệu Hưng Trị thứ 2. (1589) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hình khoa Đô Cấp sự trung, tước Thuyên Lâm hầu. Có tài liệu ghi ông là Vương Thời Trung.</p>
<p>70. Trần Phi Chiêu (1549-1623) người xã Hoa Triều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Hưng Trị thứ 2. (1589) đời Mạc Mậu Hợp. Ông theo nhà Mạc lên Cao Bằng, làm quan đến chức Tán trị Đồng đức công thần, Thượng thư Bộ Hộ, kiêm Đô Ngự sử, Nhập thị Kinh diên, Thiếu bảo, tước Diên Quận công. Sau khi mất, ông được tặng Thiếu uý.</p>
<p>71. Nguyễn Hữu Nho (1529-?) người xã Khải Mông huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Tân Lãng huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Hưng Trị thứ 2. (1589) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan cho nhà Mạc đến chức Giám sát. Sau theo về nhà Lê, làm đến chức Thừa chính sứ.</p>
<p>72. Tạ Thuần (1538-?) người xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa (nay thuộc xã Hoàng Vân huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Hưng Trị thứ 2. (1589) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Giám sát sứ.</p>
<p>73. Nguyễn Thạc Đức (1549-?) người xã Ninh Giang huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Ninh Hiệp huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Hưng Trị thứ 2. (1589) đời Mạc Mậu Hợp. Ông giữ các chức quan, như Thừa chính sứ, Hình khoa Đô Cấp sự trung. Khi nhà Mạc mất, ông theo giúp nhà Lê. Có tài liệu ghi ông là Nguyễn Phúc Đức.</p>
<p>74. Nguyễn Bỉnh Trục (1555-?) người xã La Miệt huyện Quế Dương (nay thuộc xã Yên Giả huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Kỷ Sửu niên hiệu Hưng Trị thứ 2. (1589) đời Mạc Mậu Hợp. Sau ông theo giúp nhà Lê, làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.</p>
<p>75. Nguyễn Tảo (1555-?) người xã Thời Mại huyện Bảo Lộc (nay thuộc xã Mỹ Thái huyện Lạng Giang tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2. (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Thị lang.</p>
<p>76. Nguyễn Hữu Đức (1556-?) người xã Tú Cẩm huyện Hiệp Hòa (nay thuộc xã Xuân Cẩm huyện Hiệp Hòa tỉnh Bắc Giang), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2. (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hàn lâm.</p>
<p>77. Phạm Trân (1567-?) người xã Chi Nê huyện Tiên Du (nay thuộc xã Tân Chi huyện Tiên Du tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2. (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Hình khoa Đô Cấp sự trung. Sau ông theo giúp nhà Lê.</p>
<p>78. Nguyễn Nhân Phức (1537-?) người xã Như Phượng huyện Tế Giang (nay thuộc xã Tân Tiến huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2. (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử. Có tài liệu ghi là Nguyễn Phức Nhân.</p>
<p>79. Nguyễn Chu Thắng (1550-1618) người xã Hoa Thiều huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2. (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Ông giữ các chức quan, như Tham tri, Tham chính, tước Hoa Khê bá. Sau ông theo giúp nhà Lê.</p>
<p>80. Đỗ Hoán (?-?) người xã Hán Đà huyện Quế Dương (nay thuộc xã Hán Quảng huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh), nguyên quán xã Phú Kê huyện Tiên Minh (nay thuộc thị trấn Tiên Lãng Tp. Hải Phòng), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2. (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Ông làm quan đến chức Giám sát Ngự sử.</p>
<p>81. Phạm Tòng Mệnh (1537-?) người xã Đông Bình huyện Gia Định (nay thuộc xã Xuân Lai huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh), đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân, khoa Nhâm Thìn niên hiệu Hồng Ninh thứ 2. (1592) đời Mạc Mậu Hợp. Trước khi đi thi, ông làm Huấn đạo. Khi nhà Lê Trung hưng, ông theo giúp nhà Lê, làm quan đến chức Hàn lâm.</p>
<div></div>
</div>
</div>
</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ninh-triet-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
		<item>
		<title>Ninh Hãng (1437 &#8211; ?)</title>
		<link>https://honinh.com/ninh-hang-2/</link>
					<comments>https://honinh.com/ninh-hang-2/#respond</comments>
		
		<dc:creator><![CDATA[Ninh Quang Thăng]]></dc:creator>
		<pubDate>Sat, 10 Nov 2018 09:27:14 +0000</pubDate>
				<category><![CDATA[Danh nhân họ Ninh]]></category>
		<guid isPermaLink="false">https://honinh.com/?p=1914</guid>

					<description><![CDATA[Ninh Hãng(1437-?) nguyên quán xã Lan Đình huyện Thanh Lâm (từ triều nhà Nguyễn gọi là xã Quan Đình, nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương)&#8230;]]></description>
										<content:encoded><![CDATA[<p>Ninh Hãng(1437-?) nguyên quán xã Lan Đình huyện Thanh Lâm (từ triều nhà Nguyễn gọi là xã Quan Đình, nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương) đỗ Đệ nhị giáp tiến sỹ xuất thân khoa Mậu Tuất, niên hiệu Hồng Đức năm thứ 9 (1478) triều vua Lê Thánh Tông. Ông làm quan Hiến sát sứ (chức quan coi việc giám sát của 1 trong 13 đạo), hàng tùng Tam phẩm.</p>
<p>Xin xem văn bia trong Văn Miếu Hà Nội</p>
<p style="text-align: center;">Bia số 6 <strong>VĂN  BIA ĐỀ DANH TIẾN SĨ KHOA MẬU TUẤT </strong></p>
<p style="text-align: center;"><strong>NIÊN HIỆU HỒNG ĐỨC NĂM THỨ 9 (1478)</strong></p>
<p>Năm thứ 9 sau khi đổi niên hiệu Hồng Đức, quan Bộ Lễ theo điển chế cũ, thi Hội các Cử nhân trong nước, chọn hạng trúng cách tất cả 62 người.</p>
<p>Ngày 14 tháng 5, Hoàng thượng ngự hiên điện ra bài thi, xem xét bài đối đáp để đánh giá tài năng. Hoàng thượng dụ bảo danh hiệu cao nhất sĩ tử không đạt tới. Cho nên khoa này về hàng Tiến sĩ cập đệ không có đệ nhất danh, chỉ ban cho Lê Quảng Chí đỗ Đệ nhị danh, bọn Trần Bích Hoành, Lê Ninh đỗ Đệ tam danh; còn lại ban cho bọn Nguyễn Địch Tâm 9 người đỗ Tiến sĩ xuất thân, bọn Nguyễn Hiến 50 người đỗ đồng Tiến sĩ xuất thân. Theo lệ tất cả đều được đề danh vào bia đá dựng ở nhà Thái học, nhưng Bộ Công chần chừ nên chưa dựng được. Bảy năm sau, đến năm Giáp Thìn, Hoàng thượng xuống chiếu bảo phải truy dựng, sai thần là Đôn Phục soạn bài ký.</p>
<p>Kính nghĩ: Khí vận quốc gia quan hệ bởi nhân tài, nhân tài cao thấp cốt do nơi khoa mục. Thái Tổ Cao hoàng đế ngay từ khi sáng lập ra triều ta đã dùng kinh nghĩa luận sách để thi học trò, khoa mục khởi thủy từ đấy. Thái Tông Văn hoàng đế nối chí kế nghiệp, mở mang kỷ cương, trong niên hiệu Đại Bảo mở khoa thi, nhân tài nối nhau xuất hiện, từ đó khoa mục đại chấn hưng. Nhân Tông hoàng đế nối theo phép cũ, không dám sơ suất.</p>
<p>Hoàng thượng dấy nghiệp Trung hưng, khôi phục hết thảy những việc từng bị bỏ bễ, cứ ba năm mở một khoa thi, cách nhau rất đều, thứ tự ban ơn, chu tất hoàn hảo. Từ năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Bảo tới nay, cả thảy 10 khoa, lựa được nhân tài cho quốc gia sử dụng đến vô cùng, tốt đẹp thịnh vượng lắm thay! Lại cho khắc tên vào đá để ghi việc tốt, truyền lại sự vinh hiển cho đời sau xem biết. Há dung cho hạng người không xứng đáng trà trộn trong đó, ắt phải cứu xét kỹ lưỡng. Bởi vì ý chính của triều đình cho dựng bia khắc tên là cốt mong cho những người tôi trung con hiếu ngày thường thì can ngay nói thẳng, tôn vua giúp dân, khi gặp việc thì vì nước quên nhà, gặp gian nguy thì dám quên mình, khiến người ta chỉ vào tên mà nói: người này trung, người kia thẳng, người này dám tiến cử người tốt, bài xích kẻ gian tà, giúp ích cho nước; người nọ trọn đạo làm tôi, không thẹn danh khoa mục, được như thế thì năm tháng càng lâu mà bia càng không mòn. Còn như mượn khoa mục để cầu sự ấm no, mượn khoa danh để làm lối tắt cho đường sĩ hoạn, chỉ lo cho riêng mình, không nghĩ tới việc nước, thì người ta sẽ chỉ tên mà nói: kẻ này gian, kẻ kia nịnh, kẻ này đặt lợi nhà lên trên ích nước, ích mình hại dân, kẻ kia hãm hại người tốt, bè đảng gian tà, ô danh khoa mục, như thế thì càng lâu lại càng thêm rõ tì vết. Nay ý nghĩ sâu xa của việc dựng bia, há phải chỉ cốt lưu lại sự vẻ vang lâu dài mà thôi đâu!</p>
<p>Thần vâng mệnh viết bài ký, nhân đó thuật thêm vài lời để ngụ ý khuyên răn.</p>
<p>Thần kính cẩn làm bài ký.</p>
<p>Hiển cung đại phu Hàn lâm viện Thị thư kiêm Tú lâm cục Tư huấn Nguyễn Đôn Phục1 vâng sắc soạn.</p>
<p>Cẩn sự lang Trung thư giám Chính tự Thái Thúc Liêm vâng sắc viết chữ (chân).</p>
<p>Mậu lâm lang Kim quang môn Đãi chiếu Tô Ngại vâng sắc viết chữ triện.</p>
<p>Bia dựng ngày 15 tháng 8 niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484).</p>
<p><strong><em>Đệ nhất giáp Tiến sĩ cập đệ</em></strong>, 3 người:</p>
<p><strong>LÊ QUẢNG CHÍ </strong>黎廣志2 người huyện Kỳ Hoa phủ Hà Bình.</p>
<p><strong>TRẦN BÍCH HOÀNH </strong>陳璧宏3 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.</p>
<p><strong>LÊ NINH </strong>黎寧4 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.</p>
<p><strong><em>Đệ nhị giáp Tiến sĩ xuất thân</em></strong><em>,</em>9 người<strong><em>:</em></strong></p>
<p><strong>NGUYỄN ĐỊCH TÂM </strong>阮迪心5 người huyện Yên Sơn phủ Quốc Oai.</p>
<p><strong>VŨ QUỲNH </strong>武瓊6 người huyện Đường An phủ Thượng Hồng.</p>
<p><strong>VŨ DUY THIỆN </strong>武惟善7 người huyện Thiên Bản phủ Kiến Hưng.</p>
<p><strong>NGHIÊM LÂM </strong>嚴林8 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.</p>
<p><strong>NGUYỄN SĨ NGUYÊN </strong>阮士原9người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>HOÀNG ĐỨC LƯƠNG </strong>黃德良10 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.</p>
<p><strong>NGÔ SỞ NGỌC </strong>吳楚玉11 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.</p>
<p><strong>NINH HÃNG</strong> 寧沆12 người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.</p>
<p><strong>NGUYỄN GIẢN </strong>阮僩13 người huyện Gia Định phủ Thuận An.</p>
<p><strong><em>Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ xuất thân</em></strong>,50 người:</p>
<p><strong>NGUYỄN HIẾN </strong>阮憲14 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>ĐÀO CẢNH HUỐNG </strong>陶景況15 người huyện Kim Động phủ Khoái Châu.</p>
<p><strong>NGUYỄN DƯƠNG KỲ </strong>阮陽祺16 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.</p>
<p><strong>QUÁCH TOẢN </strong>郭瓚17 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>NGUYỄN KHÁNH DUNG </strong>阮慶融18 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.</p>
<p><strong>DOÃN HOÀNH TUẤN </strong>允宏濬19 người huyện Thượng Phúc phủ Thường Tín.</p>
<p><strong>VŨ TÍN BIỂU </strong>武信表20 người huyện Thiên Thi phủ Khoái Châu.</p>
<p><strong>TRẦN QUÝ NGHỊ </strong>陳貴毅21 người huyện Yên Lãng phủ Tam Đới.</p>
<p><strong>NGUYỄN KỲ </strong>阮麒22 người huyện Tế Giang phủ Thuận An.</p>
<p><strong>NGHIÊM PHỤ </strong>嚴輔23 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>NGUYỄN THIỆU TRI </strong>阮紹知24 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.</p>
<p><strong>NGUYỄN NGHIỄM </strong>阮儼25 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>DƯƠNG BÍNH </strong>陽昺26 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>NGUYỄN HIẾU TRUNG </strong>阮孝忠27 người huyện Giáp Sơn phủ Kinh Môn.</p>
<p><strong>BÙI XƯƠNG TRẠCH </strong>裴昌澤28 người huyện Thanh Đàm phủ Thường Tín.</p>
<p><strong>NGUYỄN TRÍ KHOAN </strong>阮知寬29 người huyện Tứ Kỳ phủ Hạ Hồng.</p>
<p><strong>NGUYỄN CỐI </strong>阮薈30 người huyện Vĩnh Lại phủ Hạ Hồng.</p>
<p><strong>NGUYỄN TÂM HOẰNG </strong>阮心弘31 người huyện La Giang phủ Đức Quang.</p>
<p><strong>LƯƠNG VINH </strong>梁榮32 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.</p>
<p><strong>PHÍ MẪN </strong>費敏33 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.</p>
<p><strong>LƯU HY </strong>劉熙34 người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.</p>
<p><strong>VƯƠNG KHẮC MẠI </strong>王克邁35 người huyện Ninh Sơn phủ Quốc Oai.</p>
<p><strong>NGÔ KIM HÚC </strong>吳金旭36 người huyện An Dương phủ Kinh Môn.</p>
<p><strong>NGUYỄN CẨN </strong>阮謹37 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.</p>
<p><strong>PHẠM MIỄN LÂN </strong>范勉麟38 người huyện Thiên Tài phủ Thuận An.</p>
<p><strong>ĐÀO TIẾN KHANG </strong>陶進康39 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.</p>
<p><strong>ĐỖ HỰU </strong>杜佑40 người huyện Yên phủ Kiến Hưng.</p>
<p><strong>TRẦN SẢNH </strong>陳靚 41 người huyện Thạch Hà phủ Hà Hoa.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐƯỜNG </strong>阮鐺42 người huyện Trường Tân phủ Hạ Hồng.</p>
<p><strong>NGUYỄN NGHĨA KỲ </strong>阮義琦43 người huyện Bình Hà phủ Nam Sách.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐỈNH BẬT </strong>阮鼎弼44 người huyện Kim Hoa phủ Bắc Giang.</p>
<p><strong>NGUYỄN GIẢN LIÊM </strong>阮簡廉45 người huyện Đông Ngàn phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>NGUYỄN THỌ KÌNH </strong>阮壽鯨46 ngườihuyện Thụy Anh phủ Thái Bình.</p>
<p><strong>NGUYỄN QUÝNH </strong>阮炯47 người người huyện Thanh Oai phủ Ứng Thiên.</p>
<p><strong>NGUYỄN TẮC DĨNH </strong>阮則穎48 người huyện Hoằng Hóa phủ Hà Trung.</p>
<p><strong>TẠ HÙNG KIỆT </strong>謝熊傑49người huyện Đan Phượng phủ Quốc Oai.</p>
<p><strong>TRẦN DOÃN HỰU </strong>陳允佑50 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.</p>
<p><strong>LÊ HANH HUYỄN </strong>黎亨鉉51 người huyện Gia Lâm phủ Thuận An.</p>
<p><strong>NGÔ TRINH CHẤP </strong>52 người huyện Yên Phong phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>DƯƠNG TĨNH </strong>楊靖53 người huyện Yên Lạc phủ Tam Đới.</p>
<p><strong>NGUYỄN ĐỨC ĐỊNH </strong>阮德定54 người huyện Lập Thạch phủ Tam Đới.</p>
<p><strong>TRẦN ĐỨC TRINH </strong>55người huyện Sơn Vi phủ Thao Giang.</p>
<p><strong>NGUYỄN KÍNH HÀI </strong>阮敬諧56 người huyện Hương Sơn phủ Đức Quang.</p>
<p><strong>ĐÀO LÂM </strong>陶霖57 người huyện Thiện Tài phủ Thuận An.</p>
<p><strong>HOÀNG HIỀN </strong>黃賢58 người huyện Thiên Lộc phủ Đức Quang.</p>
<p><strong>ĐỖ CẬN </strong>杜覲59 người huyện Phổ Yên phủ Phú Bình.</p>
<p><strong>ĐẶNG CUNG </strong>鄧珙60 người huyện Quế Dương phủ Từ Sơn.</p>
<p><strong>LÊ GIÁM </strong>黎鑑61 người huyện Hưng Nguyên phủ Anh Đô.</p>
<p><strong>VŨ KIỆT </strong>武杰62 người huyện Tây Chân phủ Thiên Trường.</p>
<p><strong>HOÀNG CÔNG ĐẢNG </strong>黃公党63người huyện Thanh Lâm phủ Nam Sách.</p>
<p>Đề điệu:</p>
<p>Đặc tiến Kim tử Vinh lộc đại phu Thái phó Kỳ Quận công Thượng trụ quốc Lê Niệm.</p>
<p>Phụng trực đại phu Thượng thư Bộ Lại Tư chính Thượng khanh Hoàng Nhân Thiệm.</p>
<p>Độc quyển:</p>
<p>Thông chương đại phu Hàn lâm viện Thừa chỉ Đông các Đại học sĩ Tư chính khanh Thân Nhân Trung.</p>
<p>Tả Thị lang Bộ Lễ kiêm Quốc tử giám Tế tửu Nguyễn Như Đổ.</p>
<p>Triều liệt đại phu Đông các Học sĩ Tu thiện doãn Quách Đình Bảo.</p>
<p>Triều liệt đại phu Quốc tử giám Tư nghiệp kiêm Sử quán Tu soạn Tu thiện doãn Ngô Sĩ Liên.</p>
<p>Giám thí:</p>
<p>Tả Thị lang Bộ Hình Triều liệt đại phu Tu thiện doãn Nguyễn Tường.</p>
<p>Hữu Thị lang Bộ Công Đạt tín đại phu Tu thiện thiếu doãn Ngô Đức Thanh.</p>
<p><em>Chú thích:</em></p>
<p>1. Nguyễn Đôn Phục (?-?) người xã Tri Lễ huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tân Ước huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang kiêm Đông các Đại học sĩ và được cử đi sứ (năm 1474) sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>2. Lê Quảng Chí (1454-?) hiệu Hoành Sơn, người xã Thần Đầu huyện Kỳ Hoa (nay thuộc huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh). Ông giữ các chức quan, như Đông các Đại học sĩ, Tả Thị lang Bộ Lễ đứng đầu Hàn lâm viện. Vua Lê Thánh Tông rất trọng đãi ông, sau khi mất, ông được thăng Thượng thư.</p>
<p>3. Trần Bích Hoành (1452-?) người xã Vân Cát huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Kim Thái huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Đông các.</p>
<p>4. Lê Ninh (1448-?) người xã Thụ Ích huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Liên Châu huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Hộ bộ Tả Thị lang, kiêm Vương phó và từng được cử đi sứ. Khi mất, ông được tặng chức Thượng thư.</p>
<p>5. Nguyễn Địch Tâm (1461-?) người xã Hoàng Xá huyện Ninh Sơn (nay thuộc huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư, tước An Quận công, hàm Thiếu bảo.</p>
<p>6. Vũ Quỳnh (1453-1497) hiệu là Đốc Trai và TrạchỔtự làThủ Phácvà Yến Ôn , người xã Mộ Trạch huyện Đường An (nay thuộc xã Tân Hồng huyện Bình Giang tỉnh Hải Dương). Ông giữ các chức quan, như Thượng thư Bộ Công, Thượng thư Bộ Lễ, Thượng thư Bộ Binh, Nhập thị Kinh diên kiêm Quốc tử giám Tư nghiệp, Sử quán Tổng tài và là người có tài văn thơ.</p>
<p>7. Vũ Duy Thiện (?-?) người xã An Cự huyện Thiên Bản (nay thuộc xã Đại An huyện Vụ Bản tỉnh Nam Định). Ông làm quan Hiến sát sứ, Nhập thị Kinh diên, tước tử và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>8. Nghiêm Lâm (?-?) người xã La Phù huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã La Phù huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tự khanh.</p>
<p>9. Nguyễn Sĩ Nguyên (1451-?) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thượng bảo Tự khanh, Lục cấp Sự trung sự.</p>
<p>10. Hoàng Đức Lương (?-?) nguyên quán xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên), trú quán xã Ngọ Cầu (nay thuộc thị trấn Như Quỳnh huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan thăng đến chức Tả Thị lang Bộ Hộ và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>11. Ngô Sở Ngọc (?-?) người xã Văn Xá huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Phú Hoà huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.</p>
<p>12. Ninh Hãng (?-?) nguyên quán xã Lan Đình huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Đồng Lạc huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Hiến sát sứ.</p>
<p>13. Nguyễn Giản (?-?) người xã Đông Côi huyện Gia Định (nay thuộc xã An Bình huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Công.</p>
<p>14. Nguyễn Hiến (?-?) người xã Đông Xuất huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Đông Thọ huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Thị lang.</p>
<p>15. Đào Cảnh Huống (1434-?) người xã Phán Thủy huyện Kim Động (nay thuộc xã Song Mai huyện Kim Động tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.</p>
<p>16. Nguyễn Dương Kỳ (?-?) người xã Cao Duệ huyện Trường Tân (nay thuộc xã Nhật Tân huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thị lang.</p>
<p>17. Quách Toản (1452-?) người xã Phù Đàm huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Hàn lâm và hai lần được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>18. Nguyễn Khánh Dung (?-?) người xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Oai (nay là xã Tả Thanh Oai huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông làm quan Quốc tử giám Tế tửu.</p>
<p>19. Doãn Hoành Tuấn (?-?) người xã An Duyên huyện Thượng Phúc (nay thuộc xã Tô Hiệu huyện Thường Tín tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Thượng thư và từng được cử đi sứ (năm 1480) sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>20. Vũ Tín Biểu (1449-?) người xã Bình Lăng huyện Thiên Thi (nay thuộc xã Tiền Phong huyện Ân Thi tỉnh Hưng Yên). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.</p>
<p>21. Trần Quý Nghị (?-?) người xã Thanh Lãng huyện Yên Lãng (nay thuộc xã Thanh Lãng thị trấn Tam Đảo tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư. Có sách chép là Trần Quí Đôn.</p>
<p>22. Nguyễn Kỳ (1443-?) người xã Như Lân huyện Tế Giang (nay thuộc xã Long Hưng huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công và từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>23. Nghiêm Phụ (?-?) người xã Lan Độ huyện Đông Ngàn (nay thuộc huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.</p>
<p>24. Nguyễn Thiệu Tri (1442-1533) người xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch (nay là xã Xuân Lôi huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư Bộ Hộ. Sau khi mất, ông được phong phúc thần.</p>
<p>25. Nguyễn Nghiễm (1419-?) nguyên quán xã An Từ huyện Đông Ngàn, trú quán xã Bình Sơn cùng huyện (nay thuộc xã Tam Sơn huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Tham chính.</p>
<p>26. Dương Bính (?-?) người xã Hà Lỗ huyện Đông Ngàn (nay là xã Liên Hà huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.</p>
<p>27. Nguyễn Hiếu Trung (?-?) người xã Kênh Dao huyện Giáp Sơn (nay thuộc xã An Hưng huyện An Hải Tp. Hải Phòng. Ông làm quan Giám sát Ngự sử.</p>
<p>28. Bùi Xương Trạch (1438-1516) nguyên quán xã Định Công huyện Thanh Đàm (nay thuộc phường Định Công quận Hoàng Mai Tp. Hà Nội), trú quán xã Thịnh Liệt huyện Thanh Đàm (nay thuộc xã Thịnh Liệt huyện Thanh Trì Tp. Hà Nội). Ông Làm quan Thượng thư, Chưởng Lục bộ sự kiêm Đô Ngự sử, Quốc tử giám Tế tửu, Tri Kinh diên sự, Thái phó, tước Quảng Quốc công và từng đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>29. Nguyễn Trí Khoan (?-?) người xã Phan Xá huyện Tứ Kỳ (nay thuộc xã Hoàng Diệu huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thị lang.</p>
<p>30. Nguyễn Cối (?-?) người xã Hội Am huyện Vĩnh Lại (nay thuộc xã Cao Minh huyện Vĩnh Bảo Tp. Hải Phòng. Ông làm quan đến Tự khanh.</p>
<p>31. Nguyễn Tâm Hoằng (1434-?) người xã Lai Thạch huyện La Giang (nay thuộc xã Song Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Lễ.</p>
<p>32. Lương Vinh (?-?) người xã Cổ Bi huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cổ Bi huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Binh khoa Cấp sự trung.</p>
<p>33. Phí Mẫn (?-?) người xã Cửu Cao huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cửu Cao huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên). Ông từng làm quan Thừa chính sứ.</p>
<p>34. Lưu Hy (?-?) người xã Thượng Thanh Oai huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Văn Khê thị xã Hà Đông tỉnh Hà Tây). Ông làm quan đến Hiến sát sứ.</p>
<p>35. Vương Khắc Mại (1448-?) người xã Yên Nội huyện Ninh Sơn (nay thuộc xã Đồng Quang huyện Quốc Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang và từng được cử đi sứ.</p>
<p>36. Ngô Kim Húc (?-?) người xã Hàng Kênh huyện An Dương (nay là phường Hàng Kênh quận Lê Chân Tp. Hải Phòng). Ông làm quan đến Lại khoa Đô Cấp sự trung.</p>
<p>37. Nguyễn Cẩn (?-?) người xã Đoàn Xá huyện Trường Tân (nay thuộc xã Quang Phục huyện Tứ Kỳ tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.</p>
<p>38. Phạm Miễn Lân (?-?) người xã Hoa Cầu huyện Thiện Tài (nay thuộc xã An Thịnh huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đình uý sứ.</p>
<p>39. Đào Tiến Khang (?-?) người xã Xuân Đổ huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Cự Khối huyện Gia Lâm Tp. Hà Nội). Ông làm quan Thừa chính sứ.</p>
<p>40. Đỗ Hựu (1441-?) người xã Đại Nhiễm huyện Ý Yên (nay thuộc huyện Ý Yên tỉnh Nam Định). Ông từng được cử đi sứ sang nhà Minh (Trung Quốc).</p>
<p>41. Trần Sảnh (1431-?) người xã Ngọc Luỹ huyện Thanh Hà (nay thuộc xã Thạch Thường huyện Thạch Hà tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Giám sát Ngự sử.</p>
<p>42. Nguyễn Đường (?-?) người xã Hồng Lục huyện Trường Tân (nay thuộc xã Tân Hưng huyện Gia Lộc tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.</p>
<p>43. Nguyễn Nghĩa Kỳ (?-?) người xã Tiên Táo huyện Bình Hà (nay thuộc xã Thanh An huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.</p>
<p>44. Nguyễn Đỉnh Bật (1438-?) người xã Cán Khê huyện Kim Hoa (nay thuộc xã Nguyên Khê huyện Đông Anh Tp. Hà Nội). Ông làm quan Tham Chính. Có tài liệu ghi là Quách Đỉnh Bật.</p>
<p>45. Nguyễn Giản Liêm (1453-?) người xã Ông Mặc huyện Đông Ngàn (nay thuộc xã Hương Mạc huyện Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.</p>
<p>46. Nguyễn Thọ Kình (?-?) người xã Kha Lý huyện Thụy Anh (nay thuộc xã Thụy Quỳnh huyện Thái Thụy tỉnh Thái Bình). Ông làm quan đến Tự khanh.</p>
<p>47. Nguyễn Quýnh (?-?) người xã Bối Khê huyện Thanh Oai (nay thuộc xã Tam Hưng huyện Thanh Oai tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Đề hình Giám sát Ngự sử.</p>
<p>48. Nguyễn Tắc Dĩnh (1447-?) người xã Lam Kiều huyện Hoằng Hóa (nay thuộc xã Quảng Văn huyện Quảng Xương tỉnh Thanh Hóa). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Hộ.</p>
<p>49. Tạ Hùng Kiệt (1444-1514) người xã Hương Bảng huyện Đan Phượng (nay thuộc xã Song Phương huyện Hoài Đức tỉnh Hà Tây). Ông làm quan Tả Thị lang. Sau khi mất, ông được tặng chức Thượng thư. Có sách ghi ông là Tạ Năng Kiệt.</p>
<p>50. Trần Doãn Hựu (?-?) người xã Sơn Đông huyện Lập Thạch (nay là xã Sơn Đông huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Thượng thư.</p>
<p>51. Lê Hanh Huyễn (1458-?) người xã Nghĩa Trai huyện Gia Lâm (nay thuộc xã Tân Quang huyện Văn Lâm tỉnh Hưng Yên). Ông làm quan Đô Cấp sự trung.</p>
<p>52. Ngô Trinh Chấp (?-?) người xã Xuân Lôi huyện Yên Phong (nay thuộc xã Tam Giang huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh). Sự nghiệp của ông hiện chưa rõ.</p>
<p>53. Dương Tĩnh (1455-?) người xã Vĩnh Mỗ huyện Yên Lạc (nay thuộc xã Minh Tân huyện Yên Lạc tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Tả Thị lang Bộ Công.</p>
<p>54. Nguyễn Đức Định (1444-?) người xã Vân Chương huyện Lập Thạch (nay thuộc xã Tử Du huyện Lập Thạch tỉnh Vĩnh Phúc). Ông làm quan Ngoại lang.</p>
<p>55. Trần Đức Trinh (1454-?) người xã Thạch Lỗi huyện Sơn Vi (nay thuộc huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ). Ông làm quan Thị lang. Có sách ghi là Nguyễn Đức Trinh.</p>
<p>56. Nguyễn Kính Hài (1448-?) người xã Tân Ốc huyện Hương Sơn (nay thuộc huyện Yên Sơn tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Hiến sát sứ.</p>
<p>57. Đào Lâm (1461-?) người xã Đăng Triều huyện Thiện Tài (nay thuộc xã Trừng Xá huyện Lương Tài tỉnh Bắc Ninh). Sau ông lại thi đỗ khoa Đông các và làm quan Hàn lâm.</p>
<p>58. Hoàng Hiền (?-?) người xã Kiệt Thạch huyện Thiên Lộc (nay thuộc xã Thanh Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh). Ông làm quan Lễ khoa Cấp sự trung Hiến sát sứ.</p>
<p>59. Đỗ Cận (1434-?) hiệu là Phổ Sơnvà tự là Hữu Khác , người xã Thống Thượng huyện Phổ Yên (nay thuộc huyện Phổ Yên tỉnh Thái Nguyên). Ông làm quan Thượng thư và được cử đi sứ (năm 1483) sang nhà Minh (Trung Quốc). Ông vốn tên Đỗ Viễn, vua Lê Thánh Tông đổi tên là Đỗ Cận nhưng có sách vẫn ghi ông là Đỗ Viễn.</p>
<p>60. Đặng Cung (1460-?) người xã Vân Đoàn huyện Quế Dương (nay thuộc xã Châu Phong huyện Quế Võ tỉnh Bắc Ninh). Ông làm đến Hàn lâm viện Hiệu thảo.</p>
<p>61. Lê Giám (1452-?) người xã Phù Long huyện Hưng Nguyên (nay thuộc huyện Hưng Nguyên tỉnh Nghệ An). Ông làm quan Hữu Thị lang Bộ Lại, Nhập thị Kinh diên.</p>
<p>62. Vũ Kiệt (?-?) người xã Sa Lung huyện Tây Châu (nay thuộc xã Đồng Sơn huyện Nam Trực tỉnh Nam Định). Ông làm quan đến Cấp sự trung.</p>
<p>63. Hoàng Công Đảng (?-?) nguyên quán thôn Man Nhuế huyện Thanh Lâm (nay thuộc xã Nam Trung huyện Nam Sách), trú quán xã Đồng Khê (nay thuộc xã An Lâm cùng huyện Nam Sách tỉnh Hải Dương). Ông làm quan Thượng thư, tước Phú Thọ nam, được về trí sĩ.</p>
]]></content:encoded>
					
					<wfw:commentRss>https://honinh.com/ninh-hang-2/feed/</wfw:commentRss>
			<slash:comments>0</slash:comments>
		
		
			</item>
	</channel>
</rss>
