LỜI NÓI ĐẦU

Theo nguyện vọng của con cháu các chi ngành, họ ta tiến hành sưu tầm biên soạn phả tộc từ những năm cuối thập kỷ 90 của thế kỷ trước.

 Họ Ninh – Văn Lãng đã tới đời  thứ 27, đinh họ lên đến hàng ngàn, tài liệu còn lưu giữ là Phó ý và gia phả các chi, ngành, chủ yếu dùng để khấn các ngày kị nên không hội tụ đủ các yếu tố tộc phả, chỉ có thể làm ý phả.

 Lần theo các phó ý, kết hợp tham khảo các vị cao niên, khởi thảo ý phả và phả đồ họ Ninh –Văn Lãng đã ra đời vào cuối thu Tân Mùi năm 1991.

 Trải qua 12 năm nhìn nhận, họ thấy cần tiến hành bổ sung ý phả và lần biên soạn này không những đạt yêu cầu đúng về phạm vi hang thứ mà còn bao quát hết các chi, các đời hiện hữu, kể cả những con cháu ở xa quê. Tiếc rằng một số ở xa quê không liên lạc được, đành chưa ghi tiếp các hậu duệ của số con cháu đó.

 Hoàn thành biên soạn cuốn ý phả bổ sung là một cố gắng lớn của họ ta, trước hết là các vị tổng trưởng – trưởng nam và những con cháu có tâm huyết. Nhân đây, họ ghi nhận công sức của cố Ninh Ngọc Xước trước đây và cụ Ninh Ngọc Tú đã tiếp tục từ khởi thảo năm 1991 tới cuối ý phả bổ sung năm 2003.

Ý phả bổ sung hoàn thành đã được từng ngành họp thông qua, chỉnh sửa lần cuối và đều coi đây là văn bản chính thống.

Thay mặt họ, tôi xin có lời giới thiệu   

Tộc trưởng

 Ninh Văn Nạp

LỜI PHỤNG TIÊN

Người Việt Nam rất coi trọng hiếu, để bởi thực tế cho thấy những kẻ đã bất hiếu , bất lễ đều dễ bất trung, bất tín.

Chữ hiếu không chỉ là sự phụng dưỡng cha mẹ – ông bà, thờ cúng tổ tiên mà còn là ý thức về dòng máu trong ta. Bởi vậy đạo làm người phải biết về nòi giống tổ tiên. Từ Cựu Hào – Vĩnh Hào – Vụ Bản, họ Ninh là một trong những người đầu tiên đến khai phá đất Cồn Lãng, lập thành làng Văn Lãng, người đó chính là cụ thủy tổ Thắng Lâm Bá – Ninh Quí Công Tự Phúc Tiên, kỵ ngày 19/9, tổ bà là cụ Phạm Tam nương hiệu Huyền Lộc, kỵ ngày 12/7 ta.

Đến lập nghiệp nghiệp qua 10 đời, mà mỗi đời chỉ còn một thừa tự, các cụ bèn trở lại quê xin hài cốt, chân nhang về phụng thờ. Truyền thuyết kể rằng: Khi đem hài cốt về tới đầu làng thì trời đã quá khuya, phải để đầu làng, sang sớm hôm sau thấy mối đùn thành đụm lớn, coi đấy là điềm đắc địa và cùng nhau hoàn thành phần mộ.

Đến đời 14 sinh được 4 con trai, lớn khôn thành gia thất, con cháu ngày càng đông them, 4 gia đình xưa thành 4 chi (ngành) đông vui, trở thành họ lớn “Họ chiếm tới nủa làng”.

Người đông them, đất thêm chặt… Từ đấy con cháu Họ lại ra đi tìm nơi sinh kế. Từ tới các làng trong huyện như Nam Lạng, Ngọc Giả, Lương Hàn, Phú An, Ninh Cường, tới các xã ngoài huyện như Hải Đường, Hải Sơn, Hải Cường, Hải Long,.v.v. Một sso tỉnh và các nước châu Âu, châu Mỹ,.v.v.

Họ Ninh có những cử nhân, Thạc sỹ, Tiến sỹ, nhiều người tham gia công việc từ làng xã, tới tỉnh, có cả các tướng, tá xưa và nay và nhiều thương binh, liệt sỹ qua kháng chiến đánh Pháp và đánh Mỹ.

Chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, hòa bình xây dựng, con cháu họ tìm về Văn Lãng “Tầm tong, vấn tổ” đều mong có tộc phả.

Được toàn họ đồng tình, tham gia mạnh mẽ, qua 2 năm sưu tầm, biên soạn, khởi thảo ý phả, phả đồ hoàn thành đúng dịp Kỵ Tổ 19/9 năm Tân Mùi -1991. Do phát triển không đều cuốn khởi thảo ý phả tạm dừng ở đời thứ 24 mặc dù đời 27 lúc đó đã có.

Nay qua 12 năm đủ để nhìn nhận, hơn nữa các “Văn tủ, văn tôn” đời thứ 25, 26 phát triển khá đông, chi Nam Lạng, Hải Cường chưa có trong ý phả cần được bổ sung.

Thực hiện ý định trên, các chi ngành khẩn trương lập danh sách các đời thứ 25, 26, 27 và những đề xuất cần chỉnh sửa từ đời 24 trở về trước. Qua 2 năm tập hợp, biên soạn đã bổ sung những nội dung sau:

Lập danh sách toàn chi Nam Lạng, Hải Cường tử cụ tổ Phúc Nhân đời thứ 15 đến dời 26 gồm 344 đinh

  1. Sắp xếp lại 2 chi ngành nhất, có sự chứng kiến của trưởng nam, trưởng tộc họ, ngành và toàn chi ưng thuận. Tiếc rằng chi Văn Giáo thuộc ngành tư cũng có vướng mắc về hang thứ lại không đề xuất giải quyết.
  2. Sửa chữa, bổ sung các đời từ 16 đến 24 gồm 588 đinh như sau:

– Đời thứ 16 là : 4 đinh

– Đời thứ 17 là : 9 đinh

– Đời thứ 18 là : 18 đinh

– Đời thứ 19 là : 20 đinh

– Đời thứ 20 là : 29 đinh

– Đời thứ 21 là : 49 đinh

– Đời thứ 22 là : 55 đinh

– Đời thứ 23 là : 126 đinh

– Đời thứ 24 là : 278 đinh

4. Lập danh sách các đời mới gồm 1.233 đinh

a) Đời thứ 25 là 833 đinh

Ngành nhất       409 đinh

Ngành nhì         222 đinh

Ngành ba           41   đinh

Ngành tư           161 đinh

b) Đời thứ 26 là 347 đinh

Ngành nhất       208 đinh

Ngành nhì         106 đinh

Ngành ba            0   đinh

Ngành tư             33 đinh

c) Đời thứ 27 có khoảng 40 đinh

5. Bước đầu bổ sung một yếu tố của phả là chữ lót giữa họ và tên. Về học vấn từ tứ tài, chuyên môn từ trung cấp, về chức vụ ghi từ làng xã trở lên.

Thống kê qua các đời

–         Từ cụ thủy tổ đến đời 16 là 61 đinh

–         Đời thứ 17 là   36 đinh

–         Đời thứ 18 là   55 đinh

–         Đời thứ 19 là   68 đinh

–         Đời thứ 20 là 113 đinh

–         Đời thứ 21 là 183 đinh

–         Đời thứ 22 là 331 đinh

–         Đời thứ 23 là 563 đinh

–         Đời thứ 24 là 793 đinh

–         Đời thứ 25 là 833 đinh

–         Đời thứ 26 là 347 đinh

–         Đời thứ 27 là   40 đinh

Tổng cộng là 3.423 đinh

Cuốn ý phả lần này bổ sung danh sách hết các đời (tính đến tháng 6 năm 2003) bao gồm cả chi Nam Lạng, Hải Cường và một số yếu tố khác của phả. Tin rằng ý phả sẽ giúp con cháu hiểu nguồn gốc qua các đời kế tiếp; đặng thêm long hiếu đễ, cùng nhau xây dựng họ như ý tưởng tiên tổ hằng gửi gắm, đã trở thành truyền thống về ngôi mộ tổ họ Ninh – Văn Lãng.

Thu Ất Dậu năm 2005

Ninh Ngọc Tú

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây