Ông Ninh Văn Phan, người xã Song Khê, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang là người đã tham gia giành chính quyền tại tỉnh Bắc Giang, được bầu là đại biểu Quốc Hội khóa đầu tiên (kỳ bầu cử ngày 6 tháng 1 năm 1946) của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Ông nguyên là Phó chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Những sự kiện lịch sử tiêu biểu cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945 ở Bắc Giang

(Nguồn http://www.vanhoabacgiang.vn/index.)

Thứ ba, 03 Tháng 8 2010 03:05 |

Đêm ngày 9 tháng 3 năm 1945, phát xít Nhật làm cuộc đảo chính lật đổ Pháp độc chiếm Đông Dương. Ngay đêm hôm đó (9/3/1945), Ban Thường vụ Trung ương Đảng họp hội nghị mở rộng ở làng Đình Bảng (Từ Sơn- Bắc Ninh), để nhận định tình hình và đề ra chủ trương mới, phát động cao trào kháng Nhật cứu nước làm tiền đề cho cuộc tổng khởi nghĩa. Chỉ thị Nhật – Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta ngày 12/3/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng đã trở thành kim chỉ nam cho mọi hành động của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Bắc Giang trong suốt cao trào tổng khởi nghĩa.

Ngày 12 tháng 3 năm 1945, đồng chí Lê Thanh Nghị – đặc phái viên của Trung ương và đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh – Trưởng Ban cán sự đã quyết định phát động quần chúng khởi nghĩa giành chính quyền cấp xã, phá kho thóc của Nhật – Pháp để giải quyết nạn đói cho dân, động viên tinh thần cách mạng của đông đảo quần chúng, mở đầu cho cuộc khởi nghĩa từng phần ở tỉnh Bắc Giang.

Ngay tối ngày 12/3/1945, một cuộc mít tinh toàn xã Xuân Biều (Hiệp Hoà) được tổ chức tại đình làng, ta tuyên bố lệnh thủ tiêu chính quyền bù nhìn xã, lập Uỷ ban dân tộc giải phóng làm nhiệm vụ chính quyền cách mạng. Đây là cuộc khởi nghĩa giành chính quyền đầu tiên của tỉnh Bắc Giang và cũng là thắng lợi đầu tiên của việc vận dụng sáng tạo chỉ thị lịch sử ngày 12/3/1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng về khởi nghĩa từng phần, tạo điều kiện tiến tới tổng khởi nghĩa.

Ngày 16,17 tháng 3 năm 1945, Ban Cán sự tỉnh đã họp hội nghị tại Đồng Điều, Yên Thế nay thuộc huyện Tân Yên để rút kinh nghiệm những diễn biến vừa qua ở huyện Hiệp Hoà và phổ biến Chỉ thị ngày 12 tháng 3 năm 1945 của Ban Thường vụ Trung ương Đảng.

Ngày 18 tháng 3 năm 1945 ta đánh chiếm đồn Bố Hạ.

Ngày 20 tháng 3 năm 1945 Canh Nậu, Đồng Vương, Đồng Hưu lực lượng vũ trang cách mạng tiến sang Võ Nhai phối hợp với lực lượng tự vệ tại đây đánh đồn Đình Cả.

Ngày 12 tháng 4 năm 1945 nhiều địa phương ở Hữu Lũng tiến hành khởi nghĩa giành chính quyền thắng lợi.

Ngày 15 tháng 4 năm 1945 đội quân cách mạng tiến đánh phủ lỵ Nhã Nam.

Tối ngày 01 tháng 6 năm 1945 lực lượng tự vệ chiến đấu ở một số làng thuộc tổng Hoàng Vân, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Trọng Tỉnh tiến vào chiếm huyện lỵ Hiệp Hoà.

Ngày 14 tháng 6 năm 1945, một cuộc biểu dương lực lượng được tổ chức ở Mỏ Trạng (Yên Thế).

Ngày 18 tháng 7 năm 1945, bộ máy chính quyền tay sai của Nhật ở Yên Thế hoàn toàn tan rã.

Ngày 20 tháng 7 năm 1945, ta giành chính quyền ở phủ Lục Ngạn, Uỷ ban dân tộc giải phóng phủ ra mắt toàn dân.

Ngày 20 tháng 7 năm 1945, ta chiếm huyện Yên Dũng, chính quyền cách mạng được thành lập.

Như vậy, chỉ trong thời gian ngắn (từ ngày 01 tháng 6 đến ngày 20 tháng 7) lực lượng cách mạng đã lần lượt giành được chính quyền ở các huyện: Hiệp Hoà, Việt Yên, Yên Thế, Yên Dũng, Lục Ngạn, tạo điều kiện thuận lợi tiến lên khởi nghĩa giành chính quyền toàn tỉnh.

Ngày 14 tháng 8 năm 1945, phát xít Nhật hạ vũ khí đầu hàng quân Đồng minh – thời cơ ngàn năm có một cho nhân dân ta giành chính quyền đã tới.

Ngày 18 tháng 8 năm 1945, đồng chí Hồ Công Dự và đồng chí Ninh Văn Phan cùng đội tự vệ vượt cầu sông Thương tiến vào tỉnh lỵ, đột nhập vào dinh Tỉnh trưởng lúc 6 giờ sáng. Tỉnh trưởng Nguyễn Ngọc Đĩnh đầu hàng. 7 giờ sáng, cờ đỏ sao vàng phấp phới tung bay trên dinh Tỉnh trưởng và trại Bảo an binh.

Ngày 19 tháng 8 năm 1945, lực lượng khởi nghĩa hoàn toàn làm chủ phủ Lạng Thương. Ngay sau khi khởi nghĩa thắng lợi, Tỉnh uỷ quyết định thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời tỉnh Bắc Giang, do đồng chí Nguyễn Thanh Bình làm Chủ tịch.

Chiều ngày 21 tháng 8 năm 1945, một cuộc mít tinh lớn gồm hàng nghìn người, được tổ chức tại Sân vận động Phủ Lạng Thương để chào mừng chính quyền mới. Đồng chí Nguyễn Thanh Bình đã tuyên bố xoá bỏ chính quyền cũ, thành lập Uỷ ban nhân dân cách mạng lâm thời các cấp, giới thiệu chương trình của Mặt trận Việt Minh, kêu gọi mọi ngươì hăng hái tham gia các tổ chức cứu quốc, nâng cao cảnh giác và kiên quyết bảo vệ thành quả cách mạng.

Bằng cuộc cách mạng tháng 8, Đảng bộ tỉnh Bắc Giang đã lãnh đạo nhân dân cùng nhân dân cả nước đập tan xiềng xích nô lệ thực dân phong kiến, lập nên nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, cách mạng nước ta bước sang một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội.

Nguyễn Hữu Tự

Người trai Hà Nội nơi khói lửa

Nguồn:    http://www.anninhthudo.vn/tianyon/Index.aspx?ArticleID=76047&ChannelID=8

Bài viết về Ninh Văn Kháng, con trai ông Ninh Văn Phan

Thứ Hai, 14/06/2010, 06:00

(ANTĐ) – “Kháng mến! Thế là Kháng lên đường nhập ngũ để làm nhiệm vụ của người công dân, nhất là một người thanh niên đối với vận mệnh của đất nước như ước vọng bấy lâu nay của Kháng đã được thực hiện… Bạn của Kháng-Lư Bích Loan”.

Dòng lưu bút ấy của người bạn gái lớp 9H trường Nguyễn Trãi 3-Ba Đình, Hà Nội đã cùng vượt Trường Sơn với người bạn trai cùng lớp mới 17 tuổi (SN 1948, đã khai là 1947 để được nhập ngũ), trong cuốn sổ nhật ký nhỏ bằng bàn tay được đồng chí Thân, bạn đồng ngũ mang về cho gia đình cuối năm 1966 sau hơn một năm vượt Trường Sơn (15-4-1965).

Người con trai Hà Nội ấy là Ninh Văn Kháng. Nghe tin Kháng trúng tuyển, được vào Nam chiến đấu, các bạn trong lớp ai cũng ghen tỵ. Kháng mảnh dẻ, đạt tiêu chuẩn chiều cao, trắng trẻo. Chàng trai đã tăng trọng lượng cơ thể bằng cách ăn thật căng bụng toàn xôi và… khéo léo giấu mấy viên đá cuội trong người. Nhập ngũ rồi, bước vào luyện tập quân sự, Kháng mới thấy mình còn non nớt quá. Gấp cái chăn cái màn mãi mới đúng quy định. Lăn lê bò toài, đeo gạch hành quân, Kháng phải viện tới “chí làm trai” và lời Bác Hồ dạy: “Không có việc gì khó”. Khi hành quân, dù chỉ nghỉ chốc lát, Kháng cũng dọn mặt bằng để ngồi sao cho sạch sẽ. Khi ăn, dù là ăn lương khô, ngô, sắn… Kháng cũng ngồi xếp bằng tròn, nhai ngon như ăn cỗ, còn nhấm nháp, gật gù. Tuy thế, vào Trường Sơn mới ở chặng đầu, leo, trèo, lội, đối mặt với muỗi “a-nô-phen”, Kháng bị ngất. Bác sĩ khám, lắc đầu: “Cậu này dính bệnh tim rồi!”.

Ban chỉ huy quyết định cho Kháng theo đường dây quay trở về gia đình. Kháng đã xin gặp Tiểu đoàn trưởng, vừa khóc vừa kiên quyết tiếp tục hành quân với lý do: Cả nhà chỉ có mình Kháng là đủ tiêu chuẩn đi bộ đội. Đã đi là đi đến nơi và tự tin: “Em sẽ không ngất nữa!”. Được đồng đội giúp đỡ, Kháng đã không ngất nữa thật. Nhưng bị sốt rét. Sốt cũng đi. Và Kháng đã có mặt ở Quảng Nam, xung trận ngay những tháng cuối năm 1965-kể từ tháng 7 khi tới nơi tập kết, phiên chế đơn vị. Tiểu đoàn người Hà Nội có nhiều nhiệm vụ. Thấy địch là đánh. Nhất là với lũ máy bay Mỹ chưa đánh đã phải nhận bom, đạn của chúng rồi. Các chàng trai Hà Nội có nhiều tài lẻ, lại khéo tay, việc gì được giao cho đều làm tốt. Kháng cũng thế. Bảo đi nấu cơm thì nấu nồi cơm dẻo. Bảo đi vác gạo, thì vác cố cho nhiều. Riêng Kháng còn chịu khó viết nhật ký và viết thư về nhà.

Một lần Kháng được cử làm người dẫn đường tháp tùng đoàn cán bộ cấp cao vượt qua trọng điểm đến căn cứ chỉ huy của mặt trận, trong đó có đồng chí Nguyễn Chơn là Trung đoàn trưởng (sau là Trung tướng, Anh hùng quân đội, Phó Tổng tham mưu trưởng) thì bị một máy bay trực thăng Mỹ phát hiện sà xuống bắn rất dữ dội. Đoán được thủ đoạn độc ác của quân địch, Kháng đã ra hiệu cho mọi người ẩn tránh rồi tách ra, chạy tới chỗ trống trải làm “mồi” nhử chiếc trực thăng. Thấy có người chạy trốn, chiếc máy bay vòng lại, hạ thấp độ cao bắt sống. Ngay lập tức, Kháng bổ xuống đất, nằm ngửa, giương súng lên, khẩu K44 khạc lửa bắn trúng tên giặc lái. Chiếc trực thăng bị hạ tại chỗ. Mọi người nhanh chóng rời nơi nguy hiểm và thoát.

Ở địa bàn Quảng Nam, đơn vị Kháng đóng quân và chiến đấu tại một số huyện trong tỉnh. Năm 1967, Kháng được lệnh mang mệnh lệnh chiến đấu tới Sơn An – Núi Tráp là một trong hai trận chiến thắng giòn giã của tiểu đoàn trong chiến dịch Quế Sơn – Thăng Bình. Kháng trao mệnh lệnh xong, liền nhập vào khẩu đội 5 tham gia chiến đấu. Chỉ có khẩu K44 trong tay, Kháng không thể bắn hạ lũ máy bay phản lực đang oanh tạc trận địa của ta. Bọn này biết ta không có cao xạ cỡ lớn nên đã coi thường, lúc vọt lên, lúc sà xuống bổ nhào thật thấp. Nhìn sang bên cạnh, thấy cậu tân binh loay hoay với khẩu trung liên, không bắn được, Kháng liền quăng khẩu K44 cho cậu ta rồi giằng lấy khẩu trung liên, nhảy lên mặt đất, ghếch khẩu súng lên một cái chạc cây để bắn. Kháng đã ghi trong nhật ký: “…Và hình như mình đã bắn trúng một “con ma” (F4) khi nó bổ nhào quá thấp, đâm thẳng về phía mình… Mình vẫn còn hình dung rất rõ cái đầu mốc thếch của chiếc máy bay gần như bất động trước đầu ruồi khẩu trung liên của mình. Cả 4 quả bom hình chữ thập từ chiếc máy bay lao xuống cũng theo cùng một chiều đối diện với mũi súng của mình. Mình bóp cò bắn hết một điểm xạ 5 viên mới thấy chớp lửa nhoằng nhoằng gần dưới chân mình. Vậy là mình bị thương…”.

Để giữ bí mật và bảo vệ các gia đình đã nuôi, che chở bộ đội, Ninh Văn Kháng đã không ghi tên người của gia đình cùng địa chỉ trong nhật ký. Nhưng đồng đội, đồng hương, ai đã hy sinh, ai bị thương, ai lập chiến công, anh ghi không sót một ai. Ninh Văn Kháng được kết nạp Đảng ngày 12-7-1967. Chính thức ngày 12-4-1968 – anh vừa tròn 20 tuổi (ngày sinh của anh là 1-4-1948). Anh hy sinh ngày 6-6-1970 tại trận địa Trà Bàn, huyện Hiệp Đức, tỉnh Quảng Nam – chiến dịch Z180. Nhưng đến ngày 1-1-1974 mới có giấy báo tử, ghi nhận là liệt sĩ.

Kể từ năm 1967, Ninh Văn Kháng từ chiến sĩ được đề bạt lên cán bộ tiểu đội, trung đội, năm 1970 anh đã là Chính trị viên đại đội – Ninh Văn Kháng đã hy sinh cùng 12 đồng đội trong một trận bị bom Mỹ ném trúng hầm của một khẩu đội mà Kháng có nhiệm vụ đi cùng để trực tiếp chỉ đạo. Đồng đội và đồng bào đã lượm di thể, di vật tại trận địa đắp ngôi mộ chung. Năm 1974, ngày 30-4, Anh hùng quân đội Đặng Đình Trường, bạn cùng tiểu đoàn của Ninh Văn Kháng đã mang cuốn nhật ký năm 1966-1967 và cuốn ghi năm 1970 của liệt sĩ Kháng về cho gia đình cụ Ninh Văn Phan.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây