Thần Phả đền làng Ninh Xá do Tri huyện huyện Đại An, An Giang Bá Lê Huy Phan viết lại  vào năm Tự Đức  thứ 22 (1869) do Thần Phả cũ đã mất vì quân Thanh tàn phá.

Phiên âm:

Công tính Ninh, húy Hữu Hưng, Gia Viễn huyện, Trường An tổng, Chi Phong Xã nhân. Tự thiếu bản thị nhất nhân, hiếu học phả hữu dũng lực, cập trưởng hữu kế tổ phụ mộc tượng chi nghệ, nghệ trung đa cải sáng chí, cố hạt nội nhân tất giai tôn phục. Công thê thị hiền thục xã trung nhân năng trợ công nghệ trung đắc đa sự.

Nhất nhật, công phu thê khứ thuyền chí sơn thần miếu hành lễ, sự tất. Hồi thời ẩm thực hoàn chí sáng thụy khứ, đắc bán thời chi cửu, hốt kiến nhất nhân đầu phát hạo bạch thủ trì trúc trượng tiến nhập môn nội tiếu vấn hậu, huề công chí nhất đại động khẩu thâm thâm bất tri kỳ trường, tại động khẩu biên hữu nhị lực sỹ huề hướng chí nhất xứ điện các nguy nga, kim ngân phát lượng huy hoàng. Nhị lực sỹ toại phản hồi, kế hựu hữu nhất vị thân y thanh bào xuất chỉ nhập điện nội. Thử diện thanh Kim Quang tại dương gian quả vị tằng mục kiến. Ninh công khuynh mục tường kiến nhưng thẩn phục ư bệ tiền bất cảm ngưỡng dần quan khán.

Diêm đế kim thanh vấn viết:

– Trẫm văn nhữ tại trần gian hữu mộc nghệ tối ư tinh xảo, vị thử tầm nhữ lai trợ trẫm tác dịch, bất tri nhữ ý như hà?

Ninh công tấu viết:

– Vạn tuế! Ngu tiện hạ dân, nhược đắc thánh thượng hạ cố, hà ngôn bất cảm tận tâm.

Nhiên hậu, công đắc dẫn chí mộc tượng công trường mãn nhân nội chi nhất gian tường ốc, đắc giao cấu tác cung điện chi sự. Công toại tòng phân phó dữ trưởng nội chư nhân tác dịch. Tại thử hữu đa tinh thông nghệ nghiệp, Ninh công ý học sở đắc hựu tường cấu ốc bản hữu tham bán thi vị.

Công ư thử đắc nhất độ cửu tư gia, toại tầm chí bệ tiền tấu trình viễn cách hương lý đích tư niệm, thỉnh đắc hồi gia. Diêm đế chuẩn kỳ từ thả giác viết:

– Nhữ hồi, trẫm tứ tương kỳ sở lĩnh quy lai dĩ vi sinh kế nhiên bất khả tiết xuất nguyên do sở đắc chi nghiệp. Hiện kim tại nhữ hầu trung dĩ hữu nhất tiểu đao ư thử, nhược vi sự tất bất khả đắc sinh hoàn nhĩ!

Ninh công tuân tòng kỳ ngôn, bái tạ xu hồi. Chí tình lai, kỳ sự dĩ quá tam nhật chi cửu hỹ. Gia nhân nhất giai tựu sàng đầu vấn tấn, nhiên công bất thuyết kỳ vãng sự như hà, chỉ ngôn thân thể thống muộn bất khoan nhi dĩ.

Tự thủ công dĩ thủ nghệ nhi gia môn nhật tiệm quang hay, hạt nội đa nhân tầm chí tòng học. Vị thử công khu nội gia cư tiệm chí trù mật. Chi Phong xã đa nhân điện tư thử.

Thả ngôn Tiên Hoàng thu kỳ cương vực quy vu nhất thống, định đô tại Hoa Lư thành. Công ứng mạnh tựu kiến lập đế trị chư cung thất, công đắc thi vi sở năng chi hội, vị thử đắc thượng tứ “Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân chi chức”.

Chí hậu Lê Đế phạt Tống sư xâm cảnh đắc thắng hoàn, tự lập vi đế tái sáng tạo cung thất, công hựu đắc trọng dụng như tiền đế nhật. Nhất nhật cảnh nội thăng bình đế toại hành khuyến nông canh tịch sự công vi kỳ hữu vũ dũng siêu nhân cố đắc trạch tòng giá. Chí hồi thì, bạc thuyền tại Thiết Lâm xứ, Đế đăng ngạn nhập Lương Bình Vương từ ngoạn thưởng, kiến kỳ cổ miếu hoang lương, tà dương không chiếu, tường ốc bán khuynh thanh đài phong thấp. Đế xúc cảnh sinh tình toại lưu công ư hành tại xứ đồng tu lý thần từ chi dịch. Thời Tân Mão niên gian tứ nguyệt nhị thập tứ nhật.

Chí tu nhị vương từ sự hoàn, công hựu đắc thượng mạnh tái tu nhất tiểu phật tự, nhân thử tự đắc Phúc Lê tự hiệu, nãi kỳ Lê gia sở thủy kiến nguyên nhi danh chi dã.

Tòng thử, công lưu cư ư thử xứ khuyến tử tôn tông tộc chư nhân khẩn thổ canh giá, hựu tương ngân tiền chiêu tứ chính dân lai tụ hội lập thành trang ấp, hựu giác sở tại chư nhân thi vi công sở hữu mộc nghệ chi lương năng, kỳ công công đức thiếp trạch thâm quảng vu dân.

Công đắc khu dân ái mộ như phụ mẫu chi sinh thành. Hữu nhất nhật khu nội xổ lão ông tựu công sở cư chi xứ dữ du, công toại đồng bỉ lão nhân tửu trà lạc thư. Tại tịch thượng công bất tư đáo Diêm La tiền nhật đương giới nhi uẩn khúc nhất nhất ngôn hoàn, hốt nhiện tự hữu hắc phong nhất đạo tống lai, công toại đảo ngọc hôn trầm bất tri nhân sự nhi chí yếm trần hỹ. Thời đương Lý Thái Tổ, Thuận Thiên Kỷ Mùi niên tứ nguyệt sơ lục nhật, hưởng thọ bát thập nhất tuế. Công chi tử tôn dữ khu nội chư nhân hội luận an táng chi sự, nhất giai đồng từ tương linh cữu hạ thuyền hồi táng tại cố quán chiXu7o7ng Bồ sơn lộc lộc diện hướng  sơn thần cựu miếu.

Sự tất, Thiết Lâm khu nhân dân dĩ sự thượng tấu, đắc triều đình tứ tôn hiệu vị Lão La Đại Thần Tiên Sư, hựu cải Thiết Lâm khu vi Ninh Xá tự thử hỹ. Tái chuẩn kỳ khu dân đắc nghinh thần vị phối tự vu Hùng Triều nhị vương vị chi hạ, giai quốc nội chi công thần dã.

Kim nhật Phan nhân hữu sự thủy lai ngoại quán, hốt ngộ xã nội chư phụ lão tụ thủ hội luận soạn tập Lão La Tiên Sư thần từ sự tích. Chư lão ngôn viết:

– Từ nội tiền nhật bản hữu phả chí, tích niên bị Thanh triều binh mã đáo thử địa phương thời tàn phá nhi phả tòng thất khứ, dĩ luận sự hựu tái tam luân sự, lão hựu kế hào chí kim diệc nhi vi quả, tư hạnh ngộ đại nhân lai quán thỉnh trợ thành chi.

Phan viết:

– Sự sở dương vi, khả vi chi, nhiên thỉnh hướng ngã tái chí từ tham khán thiểu thời.

Ký nhi hựu tuế lịch Triều thị, Liêu viên chư thổ phụ. Hồi từ Phan thủy cảm viên bút tả xuất sở mục kiến nhĩ văn chi sự. Phục vong sáng tạo công nghệ tiên thánh tòng cao ứng giám đại xá Phan chi sở sự nhĩ.

Thực vạn lại đại đức chi âm phù hỹ.

Hoàng triều Tự Đức nhị thập nhị niên, tứ nguyệt cát nhật.

Đại An huyện, Tri huyện, An Giang Bá Lê Huy Phan cẩn chí.

Dịch nghĩa:

Ông họ Ninh, tên húy là Hữu Hưng, người xã Chi Phong, tổng Trường Yên, huyện Gia Viễn. Từ thuở nhỏ vốn là người hiếu học lại có vũ dũng. Lớn lên nối tiếp cha ông làm nghề thợ mộc có nhiều sáng tạo trong nghề nên trong vùng ai cũng đều tôn phục. Vợ ông người trong xã có đức hiền thục cũng giúp ông được nhiều việc trong nghề.

Một hôm hai vợ chồng ông đi thuyền tới miếu sơn thần tế lễ. Xong việc khi về nhà cơm nước rồi đi ngủ được một lúc lâu bỗng có một người đầu tóc bạc phơ, tay chống gậy trúc bước vào trong cửa niềm nở chào hỏi rồi dẫn ông tới một cái hang to sâu không biết đến chừng nào. Ở bên cửa hang có hai lực sỹ dẫn ông đi tiếp đến một nơi đền gác nguy nga, bạc vàng chói lọi rồi hai lực sỹ ấy quay trở lại. Lại một vị khác mặc áo bào xanh ra dẫn ông vào trong điện. Tòa điện có tên là Kim Quang này quả ở cõi dương thế chưa hề có. Ông liếc qua thấy rõ, nhưng chỉ phủ phục trước bệ không dám nhìn lên.

Diêm Đế cất tiếng vàng sang sảng hỏi:

– Trẫm nghe nhà ngươi ở cõi dương gian có nghề mộc giỏi nên mới tìm ngươi xuống đây giúp việc cho trẫm, chẳng hay ngươi nghĩ thế nào?

Ông Ninh tâu:

– Vạn tuế! Nếu kẻ hạ dân thấp hèn này được thánh thượng hạ cố thì đâu không dám hết lòng.

Thế rồi ông được dẫn tới một gian nhà trong dãy xưởng mộc đầy người. Ông được giao công việc chế dựng cung điện, ông tuân theo và cùng các vị trong đó làm việc. Tại đó có nhiều người giỏi nghề, ông Ninh chăm chú theo dõi học hỏi và cũng đem cách thức dựng nhà cửa của mình kết hợp. Ít lâu sau, ông nhớ nhà bèn đến trước bệ tâu bày nỗi niềm xa cách quê hương xin trở lại Dương gian.

Diêm đế đồng ý nhưng dạy rằng:

– Nhà ngươi trở về, trẫm cho đem theo nghề về làm để sinh sống, nhưng không được tiết lộ nghề ở đâu mà ra. Nếu trái lời thì nhà ngươi sẽ không sống được vì hiện đã có một con dao nhỏ trong cổ hầu nhà ngươi rồi đó.

Ông Ninh tuân lời, bái tạ rảo bước ra về. Khi ông tỉnh lại thì sự việc đã quá ba ngày rồi. Người nhà xúm lại hỏi thăm nhưng ông không nói gì cả., chỉ kêu mệt mà thôi.

Ông Ninh sống bằng nghề đó ngày một khá giả. Trong vùng nhiều người tìm đến theo học. Vì thế vùng này dần trở nên đông đúc.

Tới khi Đinh Tiên Hoàng đế thống nhất đất nước, định đô tại thành Hoa Lư, ông được nhà vua triệu ra xây dựng các cung điện nơi vua ngự. Ông được dịp thi thố tài năng và vì vậy được vua ban cho chức ” Công tượng lục phủ giám sát đại tướng quân”

Sau khi Lê Đại Hành đánh thắng quân Tống  lại cho xây dựng cung thất. Ông lại được trọng dụng như xưa. Một ngày trong lúc đất nước thanh bình, vua nghĩ nên khuyến khích việc cày cấy nông trang. Do ông Ninh có vũ dũng hơn người nên được chọn đi theo xa giá vua. Lúc trở về đỗ thuyền ở Thiết Lâm, vua lên bờ ghé vào ngôi đền thờ Lương Bình Vương thấy nơi đây miếu cổ lạnh lùng dưới bóng dương tà, tường vách xiêu vẹo, rêu xanh phủ lên ẩm ướt. Xúc cảnh sinh tình, vua cho ông ở lại dốc sức tu sửa đền thờ. Bấy giờ là năm Tân Mão (991) tháng 4 ngày 24.

Sau khi tu sửa đền thờ hai vương xong, ông lại được mệnh trên cho sửa lại ngôi chùa thờ Phật. Bởi vậy, chùa này có tên “Phúc Lê Tự” là lấy ý vua Lê kiến nguyên ban đầu có tên ấy vậy.

Từ ấy, ông lưu cư ở đó. Ông khuyên con cháu,  họ hàng và mọi người khai khẩn đất hoang cày cấy. Ông còn đem tiền của chiêu mộ dân các nơi tụ hội lập ra trang ấp và dạy cho dân làm theo nghề mộc của mình. Công đức của ông thấm tới mọi người rất là sâu rộng.

Ông được dân trong vùng yêu mến, coi như bậc cha mẹ sinh thành. Một hôm có một số ông già trong vùng tới cùng ông rượu trà vui vẻ. Trong tiệc vui, ông không nhớ tới những điều năm xưa xuống cõi Diêm La nên đem  mọi bí mật  đầu đuôi nhất nhất kể ra. Bỗng nhiên một luồng gió đen thổi lại làm cho ông  ngã vật ra mê man bất tỉnh rồi dẫn đến việc ông chán cõi đời. Bầy giờ là triều vua Lý Thái Tổ, năm Kỷ Mùi (1020), niên hiệu Thuận Thiên, tháng 4, ngày 6, ông hưởng thọ 81 tuổi. Con cháu ông cùng mọi người trong vùng họp bàn việc an táng và thống nhất đem linh cữu ông xuống thuyền chở về nơi cũ, chôn ở chân núi Xương Bồ quay mặt về phía miếu sơn thần khi trước.

Xong việc, dân chúng vùng Thiết Lâm đem việc tâu lên và được triều đình cho tôn hiệu là “Lão La Đại Thần Tiên Sư” và đổi tên Thiết Lâm thành Ninh Xá, chuẩn cho dân trong vùng rước thần vị phối thờ vào hàng dưới hai Vương (Lương Bình Vương và An Nhu Vương) lấy ý đều là công thần của đất nước.

Nay nhân Phan tôi có việc trở về quê ngoại, bỗng gặp các vị phụ lão trong xã đang tụ hội bàn việc biên tập sự tích Lão  La Đại Thần Tiên Sư. Các cụ nói:

– Trong đền khi trước vốn có Thần phả, song năm xưa đã mất đi trong lần binh mã Thanh triều về tàn phá ở địa phương. Mọi người đã bàn nhiều lần về việc ấy, song từ đời này sang đời khác vẫn chưa làm được. Nay may gặp đại nhân, xin nhờ đại nhân giúp cho.

Phan tôi đáp:

– Việc đáng làm thì nên làm, nhưng xin cho tôi xem lại đền chút đã.

Thế rồi tôi đi khắp các Triều thị, Liêu viên. Lúc trở về đền, Phan tôi mới dám cầm bút viết ra những điều tai nghe mắt thấy. Cúi trông vị tiên thánh sáng tạo nghề nghiệp đại xá cho tôi.

Thực muôn trông đức lớn âm phù vậy!

Ngày tốt, tháng 4, Niên hiệu Tự Đức thứ 22 (1869)

Tri huyện huyện Đại An, tước An Giang Bá, Lê Huy Phan kính cẩn ghi việc.

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây