Ninh Địch sinh năm 1687, quê tại xã Côi Trì, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình, đỗ Hoàng Giáp (Đệ nhị giáp Tiến sỹ xuất thân) khoa Mậu Tuất, niên hiệu Vĩnh Thịnh năm thứ 14 (1718), giữ chức quan Huấn Đạo. Cụ là anh của Ninh Ngạn và bác của Ninh Tốn.

Trong số các Sắc phong còn lưu giữ tại Nhà thờ họ Ninh tại Côi Trì, có một số Sắc phong liên quan đến Ninh Địch.

1.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1717

Phiên âm Hán – Việt

Sắc Thanh Liêm huyện – Côi Trì xã – Huấn đạo Ninh Địch. Vi Mậu Tuất khoa tứ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, thưởng ngũ tư. Phụng Đại nguyên soái tổng quôc chính sư thượng An Vương chỉ chuẩn nhậm chức tiến triều ứng vụ hữu triều đình kiểm nghị ứng nhậm Hiệu Lý chức, khả vi Cẩn sự lang, Hàn lâm viện hiệu lý – hạ liên. Cố sắc. Vĩnh Thịnh thập tứ niên, thập nguyệt nhị thập bát nhật.

Dịch nghĩa

Sắc ban cho Huấn đạo Ninh Địch, người xã Côi Trì huyện Thanh Liêm. Khoa thi năm Mậu Tuất ban cho trúng đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân, thưởng cho ngũ tư. Nay phụng đại nguyên soái tổng quốc chính sự thượng An vương chỉ chuẩn cho được tiến triều nhậm chức, giải quyết công vụ. Đã được triều đình kiểm nghị đáng được nhậm chức Hiệu Lý, nay khá thăng làm Cẩn sự lang, Hàn lâm viện hiệu lý, bậc hạ liên Vậy ban chiếu sắc Ngày 28 tháng 10 năm Vĩnh Thịnh 14 (1717)

2.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1719

Phiên âm Hán – Việt

Sắc Cẩn Sự lang – Hàn Lâm viện Hiệu lý, Hạ liên – Ninh Địch, vi nhậm chức phả xứng, phụng Đại nguyên soái tổng quốc chính Sư thượng phụ Uy minh Nhân công Thánh đức An Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Đãi chế chức khả vi Mậu lâm tá lang, Hàn lâm viện đãi chế, Hạ giai. Cố sắc. Vĩnh Thịnh thập lục niên, lục nguyệt thập lục nhật.

Dịch nghĩa

Sắc ban cho Cẩn Sự lang – Hàn Lâm viện Hiệu lý, Hạ liên là Ninh Địch vì ông nhậm chức xứng đáng, phụng chỉ phụng Đại nguyên soái tổng quốc chính Sư thượng phụ Uy minh Nhân công Thánh đức An Vương chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Đãi Chế, khá thăng phong là Mậu lâm tá lang, Hàn lâm viện đãi chế, Hạ giai. Vậy ban chiếu sắc Ngày 16 tháng 6 năm Vĩnh Thịnh thứ 16 (1719).

 3. Sắc phong cho Ninh Địch năm 1725

Phiên âm Hán – Việt

Sắc! Mậu Lâm tá lang, Hàn Lâm viện đãi chế hạ giai – Ninh Địch vi nhậm mãn xứng chức. Phụng đại nguyên soái tổng quốc chính sư thượng Thượng phụ Uy minh nhân công thánh đức An Vương chỉ chuẩn, hữu triều thần kiểm nghị ứng thăng Hiến sát sứ chức, khả vi Mậu Lâm lang Hải Dương đẳng xứ, Thanh hình hiến sát sứ ty hiến sát sứ hạ trật, cố sắc. Bảo thái ngũ niên, nhị nguyệt, nhị thập lục nhật.

Dịch nghĩa

– Sắc ban cho Mậu Lâm tá lang, Hàn Lâm viện đãi chế hạ giai là Ninh Địch. Vì nhậm chức mãn kỳ xứng đáng, phụng chỉ của Đại Nguyên soái tổng quốc chính sư thượng Thượng phụ Uy minh nhân công thánh đức An Vương (chúa Trịnh Cương), được các triều thần kiểm nghị, xứng đáng được thăng chức Hiến Sát sứ, khá thăng phong Mậu Lâm Lang Hải Dương đẳng xứ, hiến sát sứ của ty Thanh Hình bậc hạ trật. Vậy ban chiếu sắc. Ngày 26 tháng 2 năm Bảo Thái thứ 5 (1725)

4.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1730

Phiên âm Hán – Việt

Sắc Hiển Cung đại phu,Đông các học sĩ tu thận thiếu doãn trung liệt Ninh Địch, vi hữu tâm thuật xứng chức khác địch trung cần phụng Đại nguyên soái thống quốc chính Uy Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Tự khanh chức khả vi Hoằng tín đại phu đại phu, Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển. Cố sắc. Vĩnh Khánh nhị niên, thất nguyệt sơ lục nhật.

Dịch nghĩa

Sắc ban cho Hiển Cung đại phu,Đông các học sĩ tu thận thiếu doãn trung liệt là Ninh Địch vì ông có tâm thuật xứng đáng với chức vụ tỏ rõ lòng trung cần, phụng chỉ Đại nguyên soái thống quốc chính Uy Vương (Trịnh Giang) chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Tự Khanh, khá thăng phong là Hoằng tín đại phu đại phu, Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển. Vậy ban chiếu sắc Ngày 6 tháng 7 năm Vĩnh Khánh thứ 2 (1730).

5.Sắc phong cho Ninh Địch năm 1732

Phiên âm Hán – Việt

Sắc Hoằng Tín đại phu, phụng sai Nghệ An xứ phó đốc thị Thái Bộc tự khanh tu thận doãn trung tuyển Ninh Địch, vi hữu tâm thuật cán sự khác địch trung cần phụng Đại nguyên soái thống quốc chính thượng sư Uy Vương chỉ chuẩn suy ân, hữu triều thần kiểm nghị, ứng thăng Đại học sĩ chức khả vi Triều liệt đại phu, Đông các đại học sĩ, khuông mỹ thiếu doãn, trung chế. Cố sắc. Long đức nguyên niên, thập nhất nguyệt sơ cửu nhật.

Dịch nghĩa

Sắc ban cho Hoằng Tín đại phu phụng sai xứ Nghệ An phó đốc thị Thái Bộc tự khanh tu thận doãn, trung tuyển là Ninh Địch vì ông có tâm thuật mẫn cán công việc tỏ rõ lòng trung cần, phụng chỉ Đại nguyên soái thống quốc chính thượng sư Uy Vương (Trịnh Giang) chỉ chuẩn suy xét đã được triều thần kiểm nghị xứng đáng được thăng chức Đại Học sĩ, khá thăng phong là Triều liệt đại phu, Đông các đại học sĩ, khuông mỹ thiếu doãn, trung chế. Vậy ban chiếu sắc Ngày 9 tháng 11 năm Long Đức thứ nhất (1732)

6.Sắc phong cho thân mẫu của Ninh Địch năm 1733.

Phiên âm Hán – Việt

Sắc Thanh Liêm huyện – Yên Phú đồng – Thiều Thị Thám, vi Triều liệt đại phu, Phụng sai Nghệ an xứ, phó đốc thị – Đông các đại học sĩ Ninh Địch thân sinh, Vô cố dự đắc phong tặng, dĩ kinh chỉ chuẩn ứng phong tặng Nghi nhân. Khả phong tặng Nghi Nhân. Cố sắc. Long đức nhị niên, lục nguyệt thập nhị nhật.

Dịch nghĩa

Sắc ban cho người ở Yên Phú đồng, huyện Thanh Liêm là Thiều Thị Thám. Nay vì bà là thân sinh của ngài Ninh Địch giữ chức Triều liệt đại phu, Phụng sai Nghệ an xứ, phó đốc thị – Đông các đại học sĩ trước đây bà chưa được dự phong tặng. Đã có chỉ chuẩn suy xét khá thăng phong là Nghi nhân. Vậy tặng phong Nghi Nhân. Vậy ban chiếu sắc Ngày 12 tháng 6 năm Long đức 2 (1733).

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây